Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

Suy ngẫm...

Mười năm dạy trường chuyên Lê Quý Đôn.
Các thế hệ học sinh ngày đầu và thế hệ học sinh bây giờ đã thấy sự khác biệt rõ nét. Dù là 8X hay 9X thì các em có thể xem là cùng thế hệ. Thế nhưng đang có sự chuyển hóa về chất. Có thể sau này điều kiện các em đầy đủ hơn, việc vào trường chuyên không còn là nỗi băn khoăn với những học sinh thật sự có năng lực, vì cái đích duy nhất bây giờ các em hướng tới là thi đậu Đại học. Mà xem ra, môi trường hữu hiệu nhất là trường chuyên! Khác biệt trong nhận thức của 8X và 9X cũng từ đây!
Trước kia, niềm vui nhân lên trong những ngày đầu là sự ngất ngây của cả thầy lẫn trò, những cảm xúc không bao giờ quên được. Còn bây giờ, đậu học sinh giỏi là nhiệm vụ và gánh nặng của cả thầy lẫn trò. Thầy vì danh dự người dạy, trò vì áp lực bị vào đội tuyển. Đội tuyển đã không còn là niềm vinh quang số 1 mà chỉ là dịp chứng tỏ đẳng cấp dân chuyên. Nhưng khi đến đích sớm thì ngay lập tức các em muốn rời bỏ cái đích ấy càng nhanh càng tốt! Có nhiều lý do: sự thay đổi cách nhìn nhận môn chuyên, động lực vào thẳng của học sinh giỏi không còn, ít nhiều một số giáo viên, gia đình và cá nhân học sinh xem hiệu quả thực dụng là hàng đầu!!! Tuy nhiên, thật là cực hình khi lên lớp, thầy giáo cứ phải đốt cạn kiệt ngọn lửa đam mê nhưng chẳng may bị nhúng vào một nhúm giẻ ướt ỉu xìu!
Biết rằng không nên đòi hỏi một sự hy sinh cho một mục đích thiếu rõ ràng! Biết rằng mỗi thời có sự thay đổi trong quan niệm sống. Thế nhưng, với một thế hệ sớm tắt ngọn lửa đam mê cống hiến, sớm biết mùi thực dụng khá sớm, thì những gì thầy giảng trong lời văn có đủ làm các em háo hức như lớp học trò thưở xưa? Khi nghị luận xã hội trở lại với mục đích giáo dục, tăng cường kỹ năng sống cho các em, nhưng mau chóng bị biến tướng thành công thức, thành khuôn sáo, các em có đủ năng lực tiếp cận những tư tưởng đạo lý tốt đẹp, có hành vi ứng xử đẹp, hướng về những chuẩn mực CHÂN - THIỆN - MĨ như thầy cô mong đợi? Hay đang có một chuẩn mực khác, không phải từ phía nhà trường, đang hình thành một cách tự phát, đang bủa vây môi trường sống học trò, khiến cho những vấn nạn học đường bùng phát, khiến các em tự xây dựng  cho mình những vỏ bọc biện minh cho một kiểu sống mang đậm màu sắc thực dụng như hiện nay? Đại đa số các em hay chỉ "môt bộ phận"? Có phải chăng người thầy ngày càng trở nên bi quan trước chính học trò mình?
Tại sao? Tại sao? Đến bây giờ thầy vẫn đang đi tìm một lời giải đáp!

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

CHUYỆN CƯỜI RA NƯỚC MẮT TRONG BÀI THI TỐT NGHIỆP HỆ GDTX

Đáp án giống nhau, sai giống nhau

Vừa rồi chúng tôi chấm bài cho hệ giáo dục thường xuyên của hai hội đồng tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum, gặp lắm chuyện cười ra nước mắt. Một thực trạng khi chấm bài thi Giáo dục thường xuyên (GDTX) là có rất nhiều bài thi giống nhau trong những câu hỏi giáo khoa, có khi cả một phòng thi chỉ có một kiểu trả lời, đều giống nhau ở chỗ thiếu và sai so với đáp án chuẩn giống nhau. Điều đó chỉ có thể giải thích là học viên chép từ cùng một nguồn tài liệu, nhưng vì không có biên bản nên giám khảo coi như là học sinh cùng được hướng dẫn ôn tập ở một nguồn. Rải rác có những bài làm văn ở hai phòng khác nhau nhưng có những chỗ sai thì lại giống y như nhau, giám khảo cũng chỉ biết lắc đầu cười trừ mà đối chiếu đáp án cho điểm, vì không có cơ sở để lập biên bản chấm.

Những câu văn cười ra nước mắt

Đề giáo dục thường xuyên, ở câu 1 yêu cầu nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, có thí sinh viết: “Bài thơ Tây Tiến được ra đời trong lúc tác giả cùng đồng đội hành quân xuyên rừngsang giúp nước bạn Lào chống lại chế độ diệt chủng Pôn Pốt giành độc lập”. Một thí sinh khác lại viết : “Tây Tiến là đơn vị được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Pháp ở biên giới Việt Lào cũng như ở vùng Tây Bắc …”. Một thí sinh còn sáng tạo kinh hoàng khi viết Quang Dũng sinh ra ở Huế, làm văn nghệ sĩ ở xứ Nghệ, và tiếp tục tán “Ông sứng đáng là một người háo danh. Truớc lúc ông đã ra đi tìm đường cứu nước ông vì một người mà phải hy sinh anh dũng thật là khổ danh là một người lính Tây Tiến…vào năm một ngàn chín trăm sáu bảy, ông đã từng đi du học nước ngoài ở Mĩ. Trước khi ông hy sinh ông đã làm một kiến trúc sư…Ông còn làm một tập truyện ngắn, nhật kí trong tù của Phạm Tiến Duật…”. Thật là hãi hùng kiến thức học sinh!

Câu làm văn 5 điểm với đề phân tích hình tượng Rừng xà nu trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, giám khảo lại được chứng kiến những câu văn kinh hoàng!

Một thí sinh hội đồng thi Kon Tum viết: “…rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành sẽ mãi còn được đưa vào chương trình học của học sinh vì bài này luôn nhắc nhở mỗi con người chúng ta phải biết yêu thương rừng. Vì rừng đã bảo vệ chúng ta trong chiến tranh mà rừng còn là lá phổi của chúng ta. Con người không thể sống nếu không có phổi…”. Một học sinh khác viết “Xà nu đã giúp cho con người sống có lúc không nhà. Nguyễn Trung Thành đã cảm nhận được công từ rừng. Hình tượng về rừng giúp con người nhớ mãi không thể quên được.vì con người đã chặt phá củi vì vậy rừng đã có bão…”

Một bài thi đáng suy ngẫm

Những kỳ chấm thi tốt nghiệp, không tránh khỏi gặp những bài thi cười ra nước mắt. Nhưng làm giám khảo tại hội đồng chấm thi tốt nghiệp Bình Định 2010, chúng tôi đã được đọc một bài thi của học viên giáo dục thường xuyên đáng suy ngẫm! Bài làm câu 2 về vai trò của nhà trường trong việc truyền thụ kiến thức văn hoá cho học sinh, một học viên ở Kon Tum đã viết như sau:

“Như chúng ta thấy rõ trước mắt việc truyền thụ kiến thức văn hoá là quan trọng nhất. Sau này có đi đâu chúng ta không biết kiến thức văn hoá cũng bằng không. Thời hiện đại chúng ta cần phải học hỏi nhiều kiến thức bên ngoài hơn để sau này ra ngoài xã hội chúng ta còn có thể học thêm được nhiều việc có lợi cho bản thân. Thời bây giờ người địa phương cũng như người Kinh đều khuyên các con em lên trường học, dù chúng ta học dốt nhưng chỉ cần mình biết được kiến thức và cố gắng chắc chắn mình cũng có thể vượt qua được chính mình. Kiến thức đối với con người chúng rất quan trọng. Chúng ta có kiến thức mới có thể làm được việc như bản thân mình đã mong ước, cũng giống hiện tại giờ chúng đang dự thi tốt nghiệp năm 2010, lúc mà trong thời ôn tập để thi chúng ta cũng đã biết rõ cái đầu chúng có giới hạn, học bài nhiều đầu càng rối tung lên – trong thời gian ta ôn chúng ta nên có thời gian giải trí đầu óc để có trí óc để có thể học bài để mà có kiến thức. Truyền thụ kiến thức có thể cho chúng ta hiểu biết nhiều việc, trong trường học cũng như ngoài xã hội. Chúng ta ra ngoài xin việc người ta cần nhất là những ng` có kiến thức cao mới có thể xin được việc làm. Chúng ta cũng biết thời học sinh sinh viên hiện đại người ta đang cần nhiều kiến thức để có thể lập được nghiệp, biết được kiến thức càng nhiều càng tốt càng có lợi cho chính bản thân mình. Ví dụ như mình xin việc trong một công ty nào đó – mình chỉ sai xót chút ít, người ta nói mình thế này thế kia, chửi hay la mắng, mình hãy nhớ lời họ dạy bảo để rút kinh nghiệm để có thêm nhiều kiến thức hơn. Giờ đang trong thời gian thi tốt nghiệp, có rất nhiều thí sinh mang tài liệu vào phòng thi, theo em mắt thấy dù có mang tài liệu cũng không được coi, cần gì phải mang mất công bị đình chỉ không được vào phòng thi, mồ hôi và nước bọt bao nhiêu năm mình đã cố gắng cuối cùng đi thi mang tài liệu. Chúng học bài biết đến đâu thì làm đến đó, mình học ít thì biết kiến thức ít, học nhiều thì biết thêm nhiều hơn.”

Quả thật một bài thi không đúng đáp án nhưng phản ánh khá trung thực tình trạng học tập cũng như thi cử của học viên giáo dục thường xuyên, phản ánh thực trạng của giáo dục. Thí sinh này làm bài không tốt nhưng so với các bài làm trong nhiều túi giám khảo chấm, đây là bài làm trung thực nhất. Ngoài ra một số bài có những ý khiến giáo viên chúng ta phải giật mình, khi thí sinh viết “nhưng điều mà em muốn nói nhất trong ngành giáo dục là sự thờ ơ của một số thầy cô giáo trong việc truyền thụ kiến thức văn hoá cho chúng em là họ còn nhìn việc học để trao dồi kiến thức của chúng em còn chưa hết mình và còn dạy theo sách giáo khoa họ chưa sáng tạo được những môn mà họ dạy…”. Hay một thí sinh khác viết: “Và một lần nữa em muốn nói đến việc truyền thụ kiến thức văn hóa cho chúng em còn chưa quan tâm lắm. Đó là một số thầy cô giáo còn phân biệt người Kinh và dân tộc, điều đó cũng làm ảnh hưởng tới mỗi người nên em thấy việc này còn làm nặng lòng cho chúng em, còn về bên nhà trường thì luôn là sự an ủi của chúng em và còn là nơi chúng em nên người”.

Phải chăng chúng ta, những người làm giáo dục cần nhìn lại chính mình trước khi cười bài làm của thí sinh trong các kỳ thi tốt nghiệp?

TRẦN HÀ NAM

(Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bình Định)

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Nguyên Tiêu ở Quy Nhơn hoành tráng xúc cảm



Hoành tráng, xúc cảm là những mỹ từ mà nhiều khán giả đã nhận xét về đêm thơ Nguyên tiêu do CLB Văn học Xuân Diệu thực hiện dưới sự tổ chức, chỉ đạo của Trung tâm Văn hóa Bình Định. Từ 16 giờ đến 22 giờ, không khí thơ phủ trùm ở khu vực tượng đài Quang Trung, trung tâm thành phố Quy Nhơn.
Chúng tôi xin giới thiệu dưới đây bài viết của Tuyết Nhung đã đăng trên baobinhdinh.com.vn

Cuộc sống thơ

TUYẾT NHUNG

Cuối cùng, vẫn có ngày thơ, đêm thơ ở Quy Nhơn, nơi được mệnh danh là "thành phố thi ca", rằm tháng giêng năm Canh Dần 2010 này. Nói thế vì, cho đến tết, đơn vị nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức "Ngày thơ Việt Nam" và "Đêm thơ Nguyên tiêu" hằng năm không làm cái ngày- đêm thơ đã thành truyền thống này ở thành phố Quy Nhơn. Và một Câu lạc bộ văn học đã lấp đầy khoảng trống.

Đối với người làm thơ và công chúng yêu thơ của Quy Nhơn, Bình Định, sẽ không thể hình dung nổi nếu Rằm tháng giêng năm nay, Ngày thơ Việt Nam lần thứ VIII và Đêm thơ Nguyên Tiêu, thành phố này không có hội thơ. Dù tổ chức trên Đồi Thi nhân (Ghềnh Ráng) hay tại các địa điểm trong nội thành, chuyện mỗi năm có một ngày đất nước giỏi đánh giặc tôn vinh thơ đã thành lệ. Và khi, người thực hiện sân chơi vừa nghiêm trang vừa vui vẻ cả làng này là Câu lạc bộ Văn học Xuân Diệu (CLBVHXD- trực thuộc Trung tâm VHTT tỉnh), người làm thơ và yêu thơ Bình Định vẫn thực sự hài lòng. Vấn đề không phải ai tổ chức, mà là tổ chức như thế nào (may thay, không có chuyện không tổ chức!). Cần nói thêm, năm này cũng là năm thứ 20 ngày thành lập CLBVHXD. 2O năm đều đặn sinh hoạt mỗi tháng một lần, 20 năm nối tiếp nhau những thành viên khẳng định tên tuổi mình trên văn đàn trong tỉnh, trong nước. Câu lạc bộ mang tên thi sĩ Xuân Diệu quy tụ những người yêu thơ cho cuộc tồn tại 20 năm qua cũng chính là người, bằng tình yêu và trách nhiệm với thơ đã tự nguyện xúm tay làm cái ngày thơ đêm thơ thứ 8 này.

Xã hội hóa thơ

Đúng hơn là cuộc sống thơ hay thơ đã sống như thế nào? CLBVHXD chỉ có nguồn kinh phí được cấp là trang hoàng sân khấu, âm thanh ánh sáng, phần kinh phí chính cho ngày và đêm thơ là vận động từ các nguồn tài trợ. Nhà tài trợ chính cho hoạt động này của CLB là Bidiphar, Cty Dược- Trang thiết bị y tế Bình Định. Và nhiều "Mạnh thường quân" khác. CLB cách đây mấy tháng cũng từng tổ chức thật chu đáo ngày giỗ cố thi sĩ Xuân Diệu cũng bằng cuộc "chung tay" đầm ấm. Thực ra, thơ và người thơ trên đất nước này chưa bao giờ bị hắt hủi, trên miền "Đất võ trời văn" Bình Định lại càng được tôn vinh. Nhìn vào cuốn "sổ vàng" các đóng góp, ngoài đơn vị tài trợ chính, bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy tên của những cá nhân và doanh nghiệp chẳng dính dáng gì tới thơ: cơ sở chế biến nước mắm, cà phê, công ty sắt phế liệu, công ty kinh doanh địa ốc, và chính từng thành viên của CLB. Khoản kinh phí cả chục triệu cho chương trình khá rậm rạp ngày và đêm thơ bằng các nguồn tài trợ chỉ minh chứng một điều, những việc làm có ích cho cộng đồng và không vụ lợi, thêm một lần nữa khẳng định là sẽ được sự ủng hộ của cộng đồng.

Hoành tráng thơ

Ngày thơ ngay trước Trung tâm Văn hóa tỉnh bên tượng đài Quang Trung đã thu hút sự chú ý của công chúng với các hoạt động rất ấn tượng. Những bức thư pháp thơ được nhà thư pháp Bình Tuy viết và trưng bày khá sinh động. Thêm "cụ đồ" Vũ Ngọc Liễn "cho chữ" đầu xuân bằng chữ Hán đã tập hợp khá đông người yêu thơ. Cả những cuốn sách của các thành viên CLB và nhiều tác giả khác gửi tới trưng bày hoặc gửi bán cũng làm cho buổi chiều này thêm phong phú. Ở sân khấu bên cạnh là cuộc giao lưu thơ của các câu lạc bộ: CLB thơ Đường, CLB thơ Đại học Quy Nhơn, CLB thơ trường PTTH Quy Nhơn, CLB thơ Trường chuyên Lê Quý Đôn... và nhiều gương mặt thơ đủ mọi lứa tuổi. Và náo nức cuộc thi thơ nhanh: Ban tổ chức công bố đề tài và thể lệ xong là tới tấp những bài thơ viết tay gửi tham gia thi. Sân khấu thơ đã là cuộc hội tụ của các giọng thơ học trò đến thất bát tuần, cuộc hòa đồng của nhà thơ chuyên nghiệp và người yêu thơ ngâm ngợi.

Thơ và công chúng

Từ người tổ chức (Trung tâm VHTT Bình Định) đến người thực hiện (CLBVHXD) đã thành công khi đưa thơ đến với công chúng. Sân chơi chung cho người làm thơ và người yêu thơ đã có những hội tụ chan hòa. Sau 2 bài thơ có tính truyền thống "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt và "Nguyên tiêu" của Hồ Chí Minh là thơ của những người thơ Bình Định. Chứ sao, đây là ngày thơ đêm thơ trên đất thơ Bình Định kia mà! Đã hơn 50 bài thơ của ngần ấy tác giả đến với công chúng trong 4 giờ thể hiện, chiều và tối. Đã có những gương mặt thơ quen thuộc của Bình Định đến với công chúng: Lệ Thu, Văn Trọng Hùng, Mai Thìn, Trần Quang Khanh, Võ Ngọc Thọ, Trần Viết Dũng, Đặng Quốc Khánh, Nguyễn Thanh Xuân, Hồ Thế Phất, Khổng Vĩnh Nguyên..., đến với người yêu thơ, ngày và đêm thơ Bình Định còn ngạc nhiên thưởng thức những vần thơ hay của các em học sinh, của những doanh nhân yêu thơ. Và 2 câu, 4 câu của nhà thư pháp Bình Tuy, một chữ Hán mực Tàu, giấy điều của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã thực sự góp phần làm cho thơ và người yêu thơ gần nhau hơn bao giờ hết.

Lời kết

Nhà nước đang có chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa văn nghệ. Cuộc mạnh dạn tổ chức Ngày thơ Việt Nam và Đêm thơ Nguyên tiêu của Trung tâm VHTT tỉnh Bình Định và đưa thơ đến với công chúng là việc làm đáng khích lệ. Thêm một lần nữa, Ban chủ nhiệm CLBVHXD đã thành công khi chỉ có 7 ngày lo liệu với hai bàn tay trắng! Thành công này chỉ khẳng định người thơ, người yêu thơ, và người tổ chức luôn còn "đất" nếu xuất phát điểm chỉ vì THƠ! Và những câu thơ hay của người thơ Bình Định đã bay lên trời rồi sẽ rơi vào tay ai yêu thơ hay không yêu thơ như một niềm vui trong hàng trăm quả bóng bay...

T.N

Xin giới thiệu một số hình ảnh thơ Nguyên tiêu ở Quy Nhơn của NSNA Trần Hoa Khá


Đồ Liễn cho chữ



Thơ mượn bóng bay lên trời



Thư pháp Bình Tuy viết mỏi tay


Hoàng Vân, học sinh trường THPT chuyên Lê Quý Đôn và chương trình thơ buổi chiều



Khán giả của chương trình Hội thơ buổi chiều



Cả mẹ con người phụ nữ khuyết tật này cũng mê thơ



Chủ nhiệm Trần Quang Khanh trao thưởng cho những người đạt giải thi thơ nhanh




MC Quang Khanh điều hành phần lễ Đêm thơ Nguyên tiêu


Nhạc sĩ Đào Minh Tâm, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa, Trưởng ban tổ chức, đánh trống khai hội




Nhà giáo ưu tú Trương Tham đọc Cảm nhận thơ Nguyên Tiêu của Bác



Trăng Nguyên Tiêu hòa cùng đêm thơ Nguyên Tiêu



Đại biểu thả thơ lên trời




Tiết mục múa "Ngàn năm Thăng Long" của đội Văn nghệ BVĐK Bình Định chào mừng đêm thơ



Điệu đà MC Mỹ Nữ



Năng động MC Hà Nam



Nghệ sĩ Băng Châu ngâm thơ



Nghệ sĩ Bích Hạnh ngâm thơ




Nghệ sĩ Tăng Tri ngâm thơ



Diễn viên Thanh Hải ngâm thơ


Nghệ sĩ Thùy Dung ngâm thơ



Khán giả thăng hoa và chìm đắm với thơ



Tiết mục ca nhạc cuối cùng được trình diễn lúc 22 giờ

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2009

CON NGƯỜI QUA TÁC PHẦM BÀ LÃO IDECGHIN... (KẾT)

Truyền thuyết về chàng Đankô là bài ca tuyệt đẹp về sức mạnh của con người với ánh lửa rực cháy của lý tưởng sống. Đây là con người có tính cách tương phản với Larra - kẻ từ bỏ đồng loại của mình. Bóng đêm, đầm lầy và khu rừng tượng trưng cho những thế lực đen tối muốn ngăn cản sức vươn tới của con người. Những thế lực ấy đã làm cho những người trước kia vốn hùng dũng, quả cảm đã phải chùn bước. Trong hoàn cảnh hết sức điển hình ấy, bản chất của mỗi con người được bộc lộ rõ ràng. Đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết, kẻ mất tinh thần đã “kinh hoảng trước cái chết, không ai còn sợ cuộc đời nô lệ nữa…”. Giữa lúc ấy “Đankô xuất hiện”. Cái quyết tâm của chàng trai là ý chí sắt đá của con người trước mọi trở lực nguy nan, là ý chí của những người dám hành động. Chỉ có những người dám hành động thì mới có thể biến ước mơ thành hiện thực “Nghĩ ngợi không thể hất bỏ được tảng đá trên đường ta đi. Kẻ nào không mó tay vào việc gì thì chẳng làm nên công chuyện gì. Cứ nghĩ làm chi cho hao tâm tổn sức? Hãy đứng lên, chúng ta sẽ đi vào rừng và xuyên qua rừng, bởi vì rừng cũng có chỗ kết thúc, mọi cái trên đời đều có chỗ kết thúc! Ta đi đi! Nào! Tiến bước!...”. Sức mạnh của Đankô là sức mạnh của người quả cảm, sức mạnh của con người tự tin vào bản thân mình. Đankô, chàng trai dũng mãnh dẫn đầu đoàn người đã phải đối chọi với cái hèn nhát của con người khi họ gặp trở lực mới. Mâu thuẫn xung đột lên đến đỉnh điểm khi đoàn người dừng lại và kết án Đankô. Những lời lẽ của chàng trai một lần nữa chứng minh cho giá trị chân chính của con người: “Tôi có gan dẫn đường và tôi dẫn các người đi! Còn các người, các người đã làm gì để tự giúp mình? Các người chỉ cắm cổ đi và không biết giữ sức để đi được lâu dài hơn! Các người chỉ mải miết như đàn cừu!”. Giá trị chân chính của con người là đi và biết hướng phải đi tới. . Chàng Đankô cũng bị chính đồng loại của mình đẩy vào ranh giới của sự sống và cái chết. Trong con người anh giờ cháy lên hai ngọn lửa: ngọn lửa uất hận trước sự u tối của con người và ngọn lửa của tình yêu thương đồng loại. Cái cao thượng của Đankô đang đối chọi với cái thấp hèn của bầy người u mê. Một điều tất yếu sẽ xảy đến: Đankô phải chết, và Con - Người - viết – hoa ấy đã chọn cái chết cho bản thân, cái chết cho đúng với bản chất con người cao thượng của anh. Hành động anh hùng “xé toang lồng ngực” đã làm nên điều thần kỳ; Đankô đã nâng những tâm hồn đồng loại lên. “Trái tim cháy sáng rực như mặt trời, và cả khu rừng im lặng, sáng lên dưới ngọn đuốc của lòng thương yêu vĩ đại đối với mọi người”. Mặt trời chỉ có một, Đankô chỉ có một trái tim, cuộc sống chỉ có một chân lý vĩnh cửu; ánh sáng cháy rực của trái tim Đankô chính là ánh sáng của chân lý. Con Người ấy trong những giờ phút phải giáp mặt giữa ranh giới của sự sống và cái chết, sự căm thù và lòng thương yêu, cá nhân và tập thể, đã chọn con đường hành động theo đúng nghĩa con người, đánh thức những phần tốt đẹp trong bản chất con người. Hình tượng Đankô đầy tính lãng mạn mà M.Gorki đã xây dựng nên tượng trưng cho hình mẫu lý tưởng của con người. Qua hình tượng Đankô, tác giả muốn nhắn nhủ con người: hãy vươn lên đến những chân trời tốt đẹp hơn.
* *
*
Dựng lên ba mẩu chuyện, ái hư chen cái thực, cái thực hoà vào cái hư, bút pháp lãng mạn của M.Gorki đã đem đến cho chúng ta một tác phẩm tuyệt vời. Với truyện ngắn “Bà lão Idecghin”, M.Gorki đã gửi gắm đến chúng ta một nhận thức đẹp về con người, thúc đẩy chúng ta vươn lên đến giới hạn của con người, CON-NGƯỜI-VIẾT-HOA; đó là giá trị nhân văn trong tác phẩm này của ông cũng như bao tuyệt tác khác, ông đã từng cất lên những lời ca bất tuyệt về con người: “Con Người, tiếng ấy tự hào biết bao”
7.11.1987
TRẦN HÀ NAM
(Văn 2B khoá 9 )
(Đánh lại vi tính xong ngày 31.12.2009)

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009

CON NGƯỜI QUA TÁC PHẦM BÀ LÃO IDECGHIN... (tiếp)

Trong câu chuyện thứ hai, ta bắt gặp chính mảng hiện thực của cuộc đời hiện ra trần trụi, khoẻ khoắn tràn trề sức sống. Mỗi tính cách trong câu chuyện này hiện lên chân thật rõ ràng như trong đời thường ta vẫn hay gặp. Con người trong câu chuyện thứ nhất thuộc về huyền thoại, còn con người ở đây hiện lên với niềm vui và nỗi buồn, sự bình thản và hoảng hốt, sự bình tĩnh và hèn nhát, sự cao thượng và đê tiện, con người có tình yêu và sự đau khổ, con người đi qua những cột mốc thời gian. Trong câu chuyện thứ hai này, ta có thể thấy một anh thuyền chài “chỉ biết ca hát và hôn hít”, một anh chàng Guxun với “một cái đầu rực lửa”, lão Thổ Nhĩ Kỳ “nói năng như một đấng chúa tể”, một thằng bé mười sáu tuổi với tình yêu “rực cháy trong người”, một gã Ba Lan ti tiện và giả dối v.v…. Tất cả những con người ấy được lột tả tính cách qua nhân vật trung tâm là chính bà lão Idecghin.

Bà lão được tác giả quan sát rất kỹ càng: “Tôi nhìn mặt bà lão. Cặp mắt đen của bà vẫn mờ đục, hồi ức không làm cho cặp mắt ấy linh hoạt lên. Ánh trăng rọi sáng cặp môi khô nứt nẻ của bà, rọi sáng cái cằm nhọn vêu vao dính những sợi tóc bạc và cái mũi nhăn nheo khoằm xuống như mỏ cú. Hai má trũng xuống thành hai hõm đen: từ dưới mảnh giẻ đỏ quấn quanh đầu, một mớ tóc màu muối tiêu xoã ra, bê nết vào bên hõm má. Da mặt, da cổ và da tay chằng chịt nếp nhăn nom như những vết khía và mỗi khi bà lão cử động tôi cứ tưởng như làn da khô héo ấy sẽ rách tơi tả bong xuống từng mảnh và trước mắt tôi sẽ hiện lên bộ xương trần trụi với hai hốc mắt đen ngòm đờ đẫn.”. Con người ấy trong quá khứ lại là một phụ nữ tràn đầy sức sống và khát vọng tình yêu. Tình yêu của người phụ nữ này thật kỳ lạ, rất mãnh liệt và rất tha thiết. Cô gái Idecghin sẵn sàng dâng hiến tấm thân trinh bạch cho người mình yêu, nhưng lập tức có thể dứt bỏ ngay tình yêu ấy vì đó là tình yêu “yêu chỉ để mà yêu”, và cuộc đời đâu chỉ có “ca hát và hôn hít”. Tình yêu của cô với anh chàng Guxun cũng dữ dội không kém. Cả anh chàng thuyền chài Prút và anh chàng Guxun, hai người yêu của cô cùng giáp mặt với cái chết một lần. Trước cái chết, anh chàng Guxun dũng cảm “phì phèo tẩu thuốc” và anh thuyền chài “tái mét mặt khóc lóc” là hai hình ảnh tương phản của hai tính cách ngang tàng và hèn nhát của con người. Người phụ nữ Idecghin này còn yêu cả một gã Thổ Nhĩ Kỳ “giàu có và trịnh trọng”. Nhưng suốt một tuần sống trong “khuê phòng” với “tám ả đàn bà” “suốt ngày chỉ biết có ăn, ngủ và tán chuyện lăng nhăng”, con người có tình yêu nồng nàn ấy đã nhận ra tình yêu không thể làm nô lệ cho sự giàu có, và đã ra đi với tình yêu mới, tình yêu như sao băng với một thằng bé còn quá non nớt để hiểu thực tế phũ phàng của cuộc đời. Người phụ nữ Idecghin này luôn trăn trở để tìm ra đâu là tình yêu chân chính, đâu là giá trị thực của cuộc sống. Thực tế cuộc sống đã xô đẩy làm phiêu dạt số phận người phụ nữ ấy nhưng không dập tắt nổi ngọn lửa sống, ngọn lửa tình yêu trong tim bà. Tình yêu của người phụ nữ Idecghin tìm đến với một điều gì phi thường, với những con người có thể lập nên kỳ công. Lời phát biểu của bà lão cũng chính là quan niệm của tác giả về con người” “Anh biết không, trong cuộc sống bao giờ cũng có chỗ để làm nên sự nghiệp phi thường, còn những kẻ không tìm được cơ hội để lập nên kỳ công thì chỉ là những kẻ lười biếng hoặc hèn nhát hoặc là không hiểu cuộc sống, vì nếu hiểu cuộc sống thì mỗi người đều muốn lưu lại bóng dáng mình sau khi mình không còn trên đời này nữa. Và như thế thì cuộc sống sẽ không ngốn ngấu con người mà không để lại vết tích gì”. Quan niệm như vậy nhưng bà lão ấy đã có một thời bị ngọn lửa tình yêu làm cho mù quáng khi yêu một kẻ đểu cáng không xứng đáng là con người. Người phụ nữ ấy đã nếm trải sự đau khổ khi bị ruồng rẫy. Nhưng tình yêu chân chính trong con người bà đã giúp bà nhận ra những lớp son giả dối ở gã ti tiện người Ba Lan ấy. Và mặc dù đã đem mạng sống của mình mạo hiểm cứu hắn, người đàn bà Idecghin ấy đã dứt bỏ một cách thanh thản để ra đi. Hành trình dài suốt quãng đời son trẻ đã được đền bù xứng đáng, người phụ nữ ấy cuối cùng cũng tìm ra hạnh phúc cho bản thân. Câu chuyện thứ hai của bà lão Idecghin có thể nói là một bài học về tình yêu, về cuộc đời và con người. Con người, trong cuộc đời, luôn luôn phải gìn giữ ngọn lửa sống và hãy luôn luôn sáng suốt để có thể tự tìm cho mình những giá trị chân chính của cuộc đời. Bà lão Idecghin vẫn kể câu chuyện ấy cho bao lớp trẻ vì “họ cần nghe những chuyện đó”. Nhận thức của bà về cuộc đời thật đẹp và đáng để chúng ta suy nghĩ: “Đã có thời ta cũng như thế…Có điều là thời ấy, cái thời xa xưa của ta, con người có nhiều sức lực và lửa sống hơn, vì thế sống vui hơn và thú hơn… Đúng thế…”. Trong cơ thể già nua héo hắt ấy vẫn âm ỉ một ngọn lửa sống. Ngọn lửa sống ấy, bà cụ đã ban phát cho biết bao người và tiếp tục thổi bùng những khát vọng vươn tới tương lai, qua câu chuyện thứ ba, câu chuyện về chàng trai dũng cảm Đankô, về Con - Người - viết – hoa.

Phân tích BÀ LÃO IDECGHIN

Bài viết này đã hoàn thành khi tôi còn là sinh viên năm thứ 2 khoá 9 khoa Ngữ Văn Đại học sư phạm Quy Nhơn (1987). Lâu ngày tìm lại được bản viết tay, vi tính hoá để lưu giữ kỷ niệm một thời!
CON NGƯỜI QUA TÁC PHẦM BÀ LÃO IDECGHIN CỦA MACXIM GORKI

Bà lão Idecghin của Macxim Gorki là một trong những sáng tácở giai đoạn đầu của ông, vào cuối thế kỷ XIX. Truyện ngắn này mang tính dân gian cao và là một trong những sáng tác điển hình của ông. Thông qua tác phẩm, M.Gorki đem đến cho chúng ta những hình ảnh đầy chất lãng mạn và hiện thực về con người. Hay nói đúng hơn, đó là những bức tranh về tính cách. Và tác giả đã ca ngợi nhiệt thành những giá trị chân chính của con người.

* *

*

Không khí trong những câu chuyện của bà lão Idecghin là không khí của những câu chuyện cổ tích dân gian Nga xưa “Không khí nhiễm đầy mùi hơi biển gay gắt và khí bốc nồng đậm của đất thấm đẫm nước mưa từ lúc gần tối…Giữa các mảng mây những mảnh trời xanh ngời lên thứ ánh sáng dịua dàng, lấm tấm những vì sao óng ánh như vụn vàng…âm thanh và mùi vị, mây và người đều đẹp và buồn lạ lùng”. Bà lão Idecghin, người kể chuyện, cũng được phác ra như một con người của thế giới cổ xưa: “Thời gian đã làm cho lưng bà lão cong gập xuống, cặp mắt xưa kia đen láy giờ đây đã mờ đục và lúc nào cũng nhoà lệ. giọng nói khô khan của bà lão nghe đến kỳ lạ như tiếng xương va nhau lục cục…”. Bao nhiêu câu chuyện ẩn chứa trong thân hình còm cõi già nua ấy, khi được kể ra bỗng có sức hút quyến rũ lạ thường.

* *

*

Câu chuyện thứ nhất của bà lão là một truyền thuyết về đứa con trai của đại bàng, Larra, một “chàng trai đẹp và khoẻ”, đôi mắt “lạnh lùng và kiêu hãnh như mắt chúa các loài chim”. Vẻ đẹp của Larra là một vẻ đẹp của sự hoang dã, của hai mươi năm không tiếp xúc với xã hội loài người. tính cách của gã trai trẻ ấy được khắc họa trên hai mối quan hệ tiêu biểu: quan hệ với những người cao tuổi và quan hệ với phụ nữ. Chỉ có thông qua hai mối quan hệ trên mới có thể hiểu đầy đủ bản chất của Larra bởi vì suốt hai mươi năm sống tách biệt xã hội, người duy nhất gã tiếp xúc là mẹ gã, cô gái trẻ đẹp ngày xưa bị đại bàng bắt. Bà mẹ của Larra hội đủ hai yếu tố của những người mà Larra tiếp xúc. với các bậc trưởng lão, gã con trai đại bàng đối xử “như những người bằng vai” với thái độ và cử chỉ ngạo mạn hỗn xược. Với phái đẹp, gã đã hành động một cách man rợ và mất hết tính người. Gã ý thức được rằng gã là con trai của đại bàng nên đã cả gan thách thức cả bộ lạc, thách thức với tất cả các giá trị đạo đức của xã hội bằng việc giết một người con gái đẹp một cách dã man trước mặt mọi người. Bản chất của gã con trai đại bàng được rút ra sau một loạt đối thoại giữa gã và những người trong bộ lạc như sau: “nó tự coi mình là người thứ nhất trên đời và ngoài bản thân nó, nó không nhìn thấy gì nữa hết (…). Nó không có bộ lạc, không có mẹ, không có gia súc, không có vợ và cũng chẳng muốn các thứ đó”. Gã chính là hình ảnh cá nhân sống tách rời cộng đồng. hình phạt có một không hai trong câu chuyện như muốn nhắn nhủ: là người hãy sống đúng như một con người. Larra - kẻ bị ruồng bỏ cuối cùng đã nhận ra tác dụng của hình phạt khủng khiếp đó, Từ câu chuyện trên, tác giả đã đưa đến cho chúng ta một kết luận thấm thía về cách sống làm người: khi anh muốn rời xa mọi người thì anh sẽ phải chuốc lấy hậu quả không lấy gì làm tốt đẹp do chính anh gây ra. Cái đáng sợ nhất của con người chưa phải là cái chết mà là sự cô đơn, sống tách rời với xã hội và bị xã hội ruồng bỏ. Chi tiết những giọng hát ở cuối câu chuyện thật thú vị: đó là sự hoà đồng của những tâm hồn, đem đến cho lòng người cảm hứng mạnh mẽ đồng thời như chứng minh tiếp cho câu chuyện Larra bằng một lời kết ngắn gọn “Tiếng hát át tiếng sóng”, và để cho tiếp nối một câu chuyện mới, một bài ca bất diệt về sức sống tràn trề ẩn chứa trong những con người bình thường.

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2009

Đêm thành phố

  • Truyện ngắn
Thành phố về khuya uể oải như một cô gái sau khi gột hết phấn son mới nhận biết mình đang tàn tạ. Không gian lặng đến nỗi có thể nghe thấy tiếng lá khô xạc xào trên mặt đường. Thỉnh thoảng lại rộ lên tiếng xe máy rú hết tốc lực của một anh chàng nào đi chơi về muộn.
Bây giờ đã quá nửa đêm. Đứng ở bao lơn của khu nhà tập thể, Bình lặng lẽ thả những vòng khói xanh nhạt, đốm lửa của điếu thuốc cứ lập loè đỏ trên môi loé lên trong bóng tối. Anh đã có một thói quen khó bỏ là không bao giờ ngủ trước 12 giơờkhuya. Thói quen đó hình thành từ những ngày anh còn học Đại học sư phạm, nơi ban ngày lúc nào cũng ồn ào, chỉ đêm về mới đủ tĩnh để tập trung học bài. Hồi đó, bạn bè đã đặt cho Bình biệt hiệu “vạc ăn đêm” cũng bởi cái tính thức khuya này.
Càng về khuya, hình như thời gian càng trôi thật chậm. Có lẽ giờ này chỉ có những mắt đèn còn thức, toả ánh sáng xanh xao trên mặt đường. Bên kia đường, đám bụi đời đã tập trung về trước ổng một cơ quan, rải những manh chiếu hôi sì, quắp lấy nhau ngủ như chết. Cái đám người khốn khổ khốn nạn ấy gồm đủ loại tứ chiếng giang hồ, đã nghiễm nhiên tồn tại ngày này tháng khác ở cái thành phố N. này, không ngán chiếc roi pháp luật! Truy đi quét lại, dăm bữa nửa tháng đâu lại hoàn đấy. Đã bao lần Bình tự hỏi: không biết trong bọn họ, có ai đã từng một lần dằn vặt lương tâm vì hậu quả họ đem lại cho cuộc sống này chưa nhỉ? Hay họ xem móc túi, trộm cắp, mua bán dâm… mặc nhiên cũng là một nghề được xã hội thừa nhận? Anh nhớ lại đã có lần định viết một bài phóng sự điều tra về tệ nạn này, thế nhưng mơí chỉ trình bày ý tưởng, “sếp” đã gạt đi và nhìn anh bằng con mắt thương hại: “Cậu nhiệt tình cũng tốt đấy, nhưng đề tài này lâu nay đến các anh chị phóng viên làm cả chục năm cũng chưa dám làm. Đừng có dại dột mà nhúng vào!”. Thế đấy! Anh chỉ còn biết nhếch mép cười, rồi câm lặng bỏ đi. Đành phải chấp nhận thôi, trong cái thế của mình! Dẫu cho cố đấm ăn xôi mà viết được chăng nữa, không biết có ai tỏ ra vui mừng hay không, hay họ lại ném những tia mắt hằn học ganh ghét cho một thằng “chíp hôi” chưa ráo máu đầu mà đã lên mặt ti toe?
Đêm khuya, gió thổi mạnh hơn làm Bình rùng mình cảm thấy lòng như se lại. Lại sắp sang một mùa đông nữa rồi! Và anh cũng đã làm phóng viên được hơn một năm. “Thức khuya mới biết đêm dài…”, đến tận bây giờ anh mới chiêm nghiệm đầy đủ hơn cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của câu tục ngữ này. Trước kia, có mấy khi anh quan tâm đến khái niệm thời gian đâu, thời sinh viên vô tư lãng mạn, nhiều khi lại muốn thời gian ngừng trôi để Bình có thể ngồi bên người yêu nói những lời không đầu không cuối đầy đam mê…
**
*
…Khuya, sao càng lúc càng nhiều làm sáng nhờ nhờ cả bầu trời đen thẫm . tiếng Hương thầm thì bên tai làm Bình sực tỉnh khỏi cảm giác bềnh bồng:
- Nhìn kìa anh, đến giờ em mới tin bầu trời đêm nhiều lúc cũng xanh huyền hoặc đó!
Bình mỉm cười âu yếm:
- Vậy mà chỉ còn mấy ngày nữa thôi, anh chẳng còn được ngắm đôi mắt lấp lánh của em nữa rồi!
Bất giác, cả hai cùng thở dài…Trời xui đất khiến hai đứa thương nhau mà lại ở cách nhau hàng trăm cây số. Một mai ra trường, mỗi đứa một phương trời. Thời gian…! Đó là lần đầu tiên Bình nghĩ đến thời gian và khoảng cách. Cả hai còn quá trẻ và quá nhiều khát khao. Ngày mai bộn bề trăm mối lo: xin chỗ dạy, tính toán chi tiêu, những mối quan hệ mới… Hơi thở của Hương bỗng gấp gáp:
- Bình ơi, mai mốt hai đứa xa nhau, những đêm như đêm này, anh nhớ em nhiều chứ? Anh hứa đi, anh sẽ không nhìn vào đôi mắt nào xa lạ, để quên mất Hương của anh, mãi mãi là của anh…anh nói đi!
Bình không trả lời, chỉ nhìn thật sâu vào đôi mắt người yêu đang long lanh ngấn nước. Tan đi, tan ra đi, ước chi tình yêu hoá thành phép lạ cho hai đứa tan vào nhau làm một, ngay bây giờ! Đêm thật thanh bình, man mác tiếng sóng biển rì rầm hoà theo nhịp tim của hai kẻ yêu nhau. Anh tin lắm, Hương ạ…ngày mai chúng ta sẽ vào đời, sẽ đứng trên bục giảng nói những điều tốt đẹp cho lớp học trò mộng mơ, trong trắng…Anh tin chúng mình sẽ về lại với nhau, sống đạm bạc nhưng lại càng thông cảm, yêu nhau, hiểu nhau nhiều hơn nữa. Anh sẽ tự hào về người vợ hiền dịu, đảm đang của anh. Đêm đêm, hai đứa sẽ chụm đầu cùng soạn giáo án, chấm bài, sẽ không khác thời học chung tuổi sinh viên bây giờ…Đừng anh, em muốn chúng mình giữ trọn vẹn cho nhau! Em tin, em tin lắm. Xa nhau, em sẽ cố đừng để buồn nhiều, vì em đã yên tâm sống trong niềm tin yêu về anh, về Tình Yêu của chúng mình…
Biển ngời lên những đốm sao tan hoà theo con sóng. Xa xa, mắt hải đăng nhấp nháy. Cả hai cùng yên lặng dõi nhìn ra biển khơi, sao Mai đã xuất hiện ở chân trời, lung linh như niềm hy vọng…
***
Tiếng chó sủa râm ran phía xa đã cắt đứt dòng hoài niệm của Bình. Dưới đường, hai bợm nhậu đang dìu nhau lốc thốc lảo đảo. Lại người say! Bình cau mày. Sao bây giờ lắm người say đến thế! Những tiếng lè nhè vọng lên cho biết hai chàng đã “quắc cần câu”. Mấy gã bụi đời bị đánh thức làu bàu chửi rủa rồi lại co quắp ngủ. Chả dại gì bọn họ dây vào các đệ tử Lưu Linh cả. Men rượu chả giải quyết được gì, chỉ làm cho con người mờ lý trí. Đấy, cứ nghe:
- Anh…Hai, anh…để…để thằng em…ngủ đây với…đám kia cũng được! Ấc!...Mẹ nó, thất nghiệp thì khác…khác đ…gì thằng bụi đời! Anh vê…ề…đi! Tui…chưa “xỉn” mà…mà lo!
- Mày…nghe tao…đi về! Không thì tao …đá một cái thấy mẹ…bây giờ! Sướng ích gì…mất việc mà đi “quậy”!
- Anh…anh chửi tui…há anh Hai? Tui …không ngán đâu à nghen! Anh ngon…chửi thằng giám đốc…chỉ giỏi nói láo! Mẹ nó,…hoàn thành vượt…vượt mức kế hoạch mà thợ bậc 5/7 lại ra đường…Chó đẻ vậy…không quậy thì làm gì? Tôi hỏi…làm gì…hả…ả…?
Hai bóng say cuối cùng cũng đi khuất. Nhưng Bình vẫn cứ nôn nao vì đoạn đối thoại vô tình anh nghe được. Cái thời buổi bung ra này, được một việc sao mà chua chát thế! Hoá ra anh vẫn còn nằm trong số những kẻ may mắn. Có việc làm vẫn hơn, dù cho là làm hợp đồng chăng nữa!
Sao vẫn sáng đặc trời. Các hình khối nhà đen thẫm, trần trụi, tắt mọi sắc màu hào nhoáng. Cái trần trụi, buồn tẻ dường như mới chính là không khí thật ở thành phố này. Bình chợt nhớ đã lâu lắm rồi mình không làm thơ. Thơ là nơi anh gửi gắm những khát khao, ước vọng mãnh liệt của mình. Nhưng lâu nay cảm xúc đã trôi tuột theo cái nhịp đều đặn của tháng ngày. Nhiều lúc chính anh cũng băn khoăn không biết anh có còn là Bình của ngày xưa nữa không. Cuộc sống đã giúp anh nhận ra con đường thẳng ít khi dẫn đến đích và không có sẵn khuôn để làm nên sự hoàn hảo. mọi thứ đã bị bóp méo, đảo lộn gần hết. Có buồn có vui cũng phải giấu kín trong lòng, người ta khó chấp nhận sự phát triển của những cá tính mạnh. Im lặng là vàng. Bình sẽ không quên những việc đã làm anh dằn vặt suốt một năm làm việc của mình. Một năm mình chưa phải là mình. tội nghiệp cho Hương, nàng hy vọng quá nhiều vào mình! Bình còn nhớ như in những lời trong thư Hương chia vui cùng anh khi biết anh được nhận làm phóng viên hợp đồng cho báo: “…em tin Bình của em sẽ nhanh chóng tạo được chỗ đứng vững vàng. Làm nghề này, thu nhập sẽ khá hơn, mai này tụi mình sẽ đỡ lo vật chất phải không anh? Em hy vọng anh sẽ phát huy được tài năng của mình.”.
Bình cũng không ngờ mình lại có ngày làm báo. Cũng nhờ cái tiếng học giỏi mà anh đã nhanh chóng được nhận làm hợp đồng, trong khi hơn hai phần ba số bạn bè vẫn nằm dài chờ việc. Âu cũng là cái duyên tiền định chăng? Hồi học lớp 11, Bình chả gì cũng đã làm “chủ bút” của tờ “Báo Lố” do chính anh “sáng lập” đấy thôi! Của đáng tội, cũng tại cái máu viết lách lại nghịch ngợm nên tờ “Báo Lố” cũng đã chịu khá nhiều tai nạn do nhiều người tính “nghiêm chỉnh” không thích toàn nói chuyện…bố láo! Một mình Bình hồi đó vừa chủ bút, vừa phóng viên, vừa hoạ sĩ, đâm thọc hết người này đến người kia. Hồi đó, cũng chỉ vì dám viết những chuyện động trời như cười giễu, khui ra mánh lới của tụi bạn quay cóp, rồi chuyện giáo viên bắt học sinh cưa củi cho nhà mình tính điểm lao động…mà “chủ bút” phải nhiều phen sóng gió, không hiếm phen bị đấm nổ đom đóm mắt. Nhưng hầu hết ở lớp đều khoái, chuyền tay nhau tờ “Báo Lố” viết tay của Bình đến nát nhàu và tuần nào cũng ngóng số mới ra đời để biết chuyện mới, sau này lại thêm bốn năm “cộng tác viên” đắc lực… Nhưng đó là chuyện thuở “nhất quỷ nhì ma…”. Đến khi bước vào nghề báo thực thụ, Bình mới thấm những nỗi cực nhọc, cay đắng của nghề.
***
Tiếng dế ri rỉ bỗng cất lên làm đêm thêm hoang vắng. Bình thở dài. Ngày mai anh còn phải hoàn thành bản tin về một công trình của thanh niên xung phong tỉnh nhà. từ chập tối đến giờ anh vẫn chưa viết được dòng nào, hễ vào phòng là lại váng vất đầu, dường như men bia của hôm qua đến giờ mới ngấm. Anh nhớ lại khuôn mặt láu cá, đỏ phừng phừng của tay tổng đội trưởng mà cảm thấy ngán ngẩm: “Ông phóng viên cứ viết cho hay vào nhé, mà phải chờ cụ “bí” về rồi hẵng phát, chứ “cụ” không được biết thì lại cứ chửi tụi này ăn hại nhà nước suốt!”. Bình thoáng rùng mình khi cô chiêu đãi cầm tờ thanh toán vào, anh sửng sốt không tin vào mắt mình: gần 600 ngàn đồng, cộng khoản hồi sáng cũng ngót nghét gần triệu bạc. Thực ra đây cũng chỉ là con số nhỏ nhoi so với nhiều đơn vị kinh tế khác chi ra cho một buổi liên hoan. Nhưng anh vẫn cảm thấy đắng trong họng. Mấy tay ngân hàng đi nghiệm thu công trình thanh niên để duyệt cho vay vốn giờ cũng đã xiểng tảng gục đầu lên bàn, vòng tay qua mấy em “phục vụ” đang lè nhè giọng say: “Anh, anh không chết đâu anh…”. Giọng cười hăng hắc đuổi theo Bình đến tận nhà, anh nôn thốc nôn tháo những lẩu, những gà hầm thịt quay ra nhà vệ sinh rồi nằm vật vã cho đến sáng. Anh biết bài báo của anh có thể đem lại “quota” cho mấy tay thanh niên xung phong nọ. Sự đời có qua có lại…! Nhưng nếu không viết, anh sẽ bị chất vấn, bị cái tội “không hoàn thành nhiệm vụ”. Viết thì…! Anh không biết khi cái công trình thanh niên kia hoàn thành thì đến mấy chục phần trăm sẽ phải bỏ ra để bù lỗ? Băn khoăn cũng chả ích gì, ở địa vị anh, có lẽ người ta sẽ tặc lưỡi: “Ôi dào, giờ này làm ăn kinh tế là phải thế! Lương tâm không bằng lương tháng, lương tháng không bằng lương ‘lẹo’!”.
Bình lại nhớ đến Hương. Nàng cũng thuộc vào số may mắn. Xin được việc làm, lại biên chế đàng hoàng ở Hội phụ nữ trong đó. Gì thì gì, người trong biên chế bao giờ cũng có thể tự cho phép mình ung dung hơn kẻ hợp đồng. Nhưng biên chế như Hương thì thu nhập mỗi tháng chỉ đủ tiền mua gạo và một ít son phấn. Hương đã viết thư sao nhỉ? “Em cảm thấy mình còn sướng hơn nhiều chị khác cùng cơ quan, cũng đồng lương như vậy mà phải nuôi thêm 2, 3 con nhỏ, cực lắm! Bình ơi, đôi khi em vẫn tiếc vì ước mơ đi dạy không thành. Có phải chúng mình hồi đó nhiều mơ mộng quá không anh?”. Phải rồi, Hương à! Cả anh và em đều là những kẻ quá nhiều mơ mộng. Và đến giờ anh vẫn là kẻ mộng mơ, có điều những giấc mơ đầy hoang tàn, trống vắng…Bình của em nhiều lúc phải làm một thằng nói dối, một kẻ hèn nhát run sợ không dám nói những sự thật phũ phàng. Anh biết Hương của anh sẽ không thể chịu nổi nếu anh mất việc phải về nhà nằm dài ăn bám đồng lương hưu của cha mẹ. Dù chán ngán sự đời đến đâu, con người ta vẫn phải “tay làm” thì “hàm” mới có “nhai”. Và cái nguyên tắc phục tòng vô điều kiện chính là điểm tựa vững chắc nếu anh không muốn bị cho ăn bùn. Bình biết rõ điều đó. Nhưng anh vẫn còn nuôi dưỡng ý nghĩ thật kỳ quặc. Chẳng hạn, lang thang một mình theo các dãy phố, nhìn người ta yêu nhau, để tự thấy mình lạc lõng giữa những người vui vẻ trong thành phố náo nhiệt này. Kết thúc hành trình mộng du của anh bao giờ cũng là nơi eo biển vắng người. Biển bao la như mở rộng một vòng tay thân ái. Không phải anh còn quá lãng mạn ư, mà sao cứ vơ vẩn một câu hỏi: có phải xung quanh mình, lòng tốt đều là giả tạo? Sao người ta không sống rộng rãi như biển, đằm sâu như biển? Rồi cũng chính anh lại trả lời: tại vì họ cứ khăng khăng nhận mình là một người chân chính. Chín người mười ý, ai dễ chịu ai? Anh nhớ tới một qui luật của môn triết học: qui luật phủ định của phủ định, và cũng không quên qui luật ứng dụng vào tự nhiên đôi khi cũng có độ sai biệt rất lớn khi ứng dụng vào xã hội. Biết đâu một mai anh chẳng nghĩ khác, chẳng trở thành một con người khác. Không suy tư, không hờn giận, không yêu thương và không còn biết sợ bất cứ điều gì. Bao giờ? Không, không có lẽ anh đã trở thành bi quan đến thế rồi sao?
Bình quay vào phòng. Trang giấy trắng tinh, anh nắn nót: “Hương thương yêu!...”. Những số liệu trong sổ công tác không còn ám ảnh anh nữa. Công việc vẫn cứ là công việc. Anh tin vào khả năng của mình. Anh sẽ xoa đi được những mặc cảm triền miên, sẽ chiến đấu với cuộc sống này dù cho đơn thương độc mã. Ngày mai…ngày mai anh còn có Hương, còn có tình yêu nghĩa là còn tất cả. Trước mắt anh, Hương đang cười, nụ cười tin yêu và ánh mắt vẫn như ngày nào lấp lánh nhìn anh.
Đàng xa, phía chân trời, sao Mai đã hiện ra, rực rỡ…
Thành phố đã bắt đầu hồi sinh trong nhịp chân rộn rã của những người đi tắm biển sớm mai.
Qui Nhơn, tháng 10 năm 1991
T.H.N
(Đánh vi tính lại vào tháng 2.2008 - kỷ niệm thời còn làm phóng viên)