Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

HẠT BỤI NÀO...

            Không hiểu sao khi đọc xong tập thơ thứ ba của Võ Ngọc Thọ - Hạt Bụi và Hoa Quỳnh – tôi lại chợt nhớ lời hát của Trịnh Công Sơn: hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…, phải chăng vì cả hai hình tượng anh dùng đặt tên cho tập thơ này đều gợi về một cái gì rất nhỏ bé,mong manh, ngắn ngủi trong cảm nhận về sự sống, đời người?
            Từ bài thơ mở đầu đã mang theo ám ảnh về một đường tàu – định mệnh, dù rằng anh nói về một vấn đề lớn lao:
            Có vẻ như con tàu đã vào đúng đường ray độc nhất
            người lái tàu quá thuộc những lời răn

            Có vẻ như ga vắng khách
            mà người tiễn, nhân viên đường sắt thì đông

            Có vẻ như đoàn tàu đang bị lỗ
            nhưng những người ăn theo thì giàu sụ…
                                                (Có vẻ như…)
            Tôi nhận ra những bài thơ gần đây của Võ Ngọc Thọ thường bắt nguồn từ những quan sát cảm nhận hiện thực có phần gai góc và sù sì của đời sống, những suy ngẫm thơ cứ thế bật ra theo lối tự sự để chuyển tải những trăn trở hướng về đất nước, nhân dân. Những bài thơ làm với cảm hứng công dân thường không mấy khi dễ chịu và dễ dãi, vì còn quá nhiều những ưu tư cuộc sống đọng lại. Cũng là những hình tượng thơ trở thành  đối tượng chiêm ngưỡng, ca ngợi của thi ca nhưng Võ Ngọc Thọ lại ngẫm nhiều hơn đến nỗi đau, đến sự hy sinh lặng thầm, những mất mát trong phận người. Chẳng hạn một bài thơ ngắn viết về Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, anh kết bằng hai câu ray rứt:
            Đèn khuya  tuổi mẹ mỏi mòn
            Nén hương khói tạt khóc con đêm dài…
            Có một nhà thơ đã từng tuyên ngôn: “Tôi đứng về phe nước mắt!” giữa không khí thời đại hừng hực những khúc tráng ca. Bây giờ khi thơ đã thấm đẫm cảm hứng nhân văn, quan tâm hơn những vấn đề nhân sinh, ta lại gặp quá nhiều nước mắt! Võ Ngọc Thọ có độ tiết chế hơn trong tình cảm, trừ khi đó là nỗi đau của riêng anh, còn thơ anh đủ độ tỉnh táo để không có những giọt nước mắt cá sấu giả vờ yêu nước thương dân, ăn năn sám hối như một mốt thời thượng của những loại ngụy-thi-sĩ! Có thể đó là những giọt thơ rơi trong chiều mưa hay cảm hứng vào một ngày xuân cờ đỏ mai vàng, một suy ngẫm về lòng yêu nước không là đặc quyền của một tầng lớp, giai cấp phe phái nào cho đến trăn trở về thời gian có ich và mặc cảm vô tích sự, Võ Ngọc Thọ đã có thừa độ tỉnh để rạch ròi trong thái độ:
            Người hiền tài chơi gốc
            Có sẵn một kế sách an dân

            Kẻ gian nịnh chơi gốc
            Nuôi sẵn dã tâm hại dân bán nước…
                                    (Chơi gốc)
            Trong cảm hứng thơ kết hợp suy tư phận người và đất nước, Võ Ngọc Thọ đã có một bài thơ thật đời mà cũng rất giàu triết lý, những triết lý chắt lọc từ trải nghiệm nhân tình thế thái : Người đàn ông mài dao dạo. Tôi nghĩ đó cũng là cách anh hình dung về chính mình, về cái tạng thơ của mình:
            Không mài dũa
            đá vẫn cứ là đá
            dao cũ mòn bỏ đi

            Người đàn ông cắm cúi mài dao
như mài trên chính thân phận mình…
Trong Hạt Bụi và Hoa Quỳnh, Võ Ngọc Thọ dành nhiều đất cho tình yêu, đề tài muôn thuở! Tuy nhiên đó không phải là thứ tình yêu nồng nàn đắm đuối của tuổi hai mươi mà là tình yêu muộn mằn của một người nhiều trải nghiệm. Đó là tình yêu rất nồng nàn bền bỉ thách thức với thời gian, ấp ủ tự trong lòng, chạy đua với tuổi tác. Lớn hơn tình cảm nam nữ thông thường, đó là thái độ tôn vinh cái đẹp, trân trọng chút hương thầm đọng lại với đời:
Hoa rồi cũng úa tàn
sẽ thay bằng những bông hoa khác

Xuân về
tôi lại đem chiếc bình cũ ra dùng
nhớ những người đi qua…
còn gửi lại chút hương
                        (Chiếc bình hoa)
Có thể dễ dàng nhận ra sự trở lại của hình tượng hoa, một ám ảnh thường trực trong thơ Võ Ngọc Thọ từ những tập thơ trước: hoa mai vàng, hoa bằng lăng, hoa hồng, hoa hướng dương,những làn hương hoa, những dáng hoa … và anh làm người tỉ mẩn nhặt hoa và trò chuyện cùng hoa. Nên cái say trong tình yêu của Võ Ngọc Thọ là cái say của một người tình thầm lặng, chiêm ngưỡng mà không muốn chiếm đoạt sở hữu, nhiều hoài niệm nhiều bâng khuâng:
Tôi ngồi trong lặng lẽ
Bên bóng hoa mơ màng
Hương tình em sâu lắng
Chiều chợt buồn mênh mang…
                        (Hương…)
Anh gửi vào trong hoa một triết lý của người đã chạm vào ngưỡng lục thập hoa giáp của một đời . Thời gian càng hối hả, con người càng cần sống chậm để chiêm nghiệm giá trị đời người, như một tâm sự anh gửi gắm trong Thơ viết một ngày không vội vã:
Ngày không vội vã
ấy là ngày ngồi nghe biển tâm tình
nhìn sóng dào dạt vỗ bờ
rồi tan mau trong ly cà phê giọt chậm…
Trong nhịp thời gian chậm rãi ấy, anh đã chiêm nghiệm được rất nhiều vẻ đẹp và cả những mặt gai góc của đời, đã sống rất nhiều vai khác nhau: người công dân, người tình, người cha, người ông… Tôi không muốn nói nhiều thêm những bài thơ anh viết cho gia đình, cho Mẹ, cho Cha, cho con gái, cho cháu ngoại, vì đó là khi anh viết cho riêng mình bằng tất cả máu thịt và niềm kính ngưỡng, nỗi đau mất mát. Không cần bình và không thể bình những bài thơ ấy mà chỉ biết lặng lẽ cảm cùng anh.
Khép lại những cảm nhận vội vàng này, tôi xin được cùng anh đọc bài thơ, như một phản biện cho cảm nhận ban đầu của tôi:
Chẳng có hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
chỉ có thơ
và tình em
giúp tôi đứng dậy

Những đêm buồn
bạn cùng vầng trăng và hạt bụi
ơi, vô thường
nở đóa quỳnh thơm!
                        (Hạt Bụi và Hoa Quỳnh)
Vâng, đó là bức thông điệp nhẹ nhàng lắng đọng mà Võ Ngọc Thọ muốn gửi gắm cho chúng ta trong tập thơ này.
                                                                                    TRẦN HÀ NAM

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

Trịnh Hoài Linh - Ruộng và Làng

(Đọc Hương của Đất - tập thơ của Trịnh Hoài Linh, NXB Thời Đại, 2010)
Mẹ...
Ruộng...
Làng...
Trịnh Hoài Linh đã đem vào trong thơ tất cả cái chân chất của một nông dân thứ thiệt. Khi tập thơ của anh thấm đẫm một niềm thơm thảo chất bùn đất quê làng! Thú thật, dạo này tôi dị ứng khi nghe những danh xưng những mĩ từ mượn màu quê kiểng nhưng thực ra đó chỉ là thứ trang sức lòe người đánh bóng tên tuổi để tiện bề loi ngoi trong bả phù hoa danh lợi. Nên đọc thơ Trịnh Hoài Linh ít nhiều cũng có chút cảm giác e dè ấy. Mà cũng lạ, khi người ta nếm đủ mùi vinh hoa thì lại cứ thích về nép trong bóng quê làm dáng, như cái kiểu các ông vào hàng đặc sản gọi món rau muống xào tỏi để tỏ ra mình chưa quên gốc quê mùa. Thật may, thơ của Trịnh Hoài Linh là của một dân làm ruộng thứ thiệt, tay chân chai sần, nứt nẻ vì cắt lúa lội ruộng. Nên trước hết tôi tin anh nói thật, cái khó tìm ra trong thời buổi thiên hạ thích nói láo thích lòe đời. Mà cũng thật may khi lại không phải là cái thật thà như đếm có sao nói vậy để làm cho thơ trở thành dung tục sống sượng - cũng là một cách mà một số người ngộ nhận đó là dòng thơ dân gian, thực chất là tục tĩu hóa thơ.
Thơ Trịnh Hoài Linh có mỹ cảm, có thi pháp hẳn hoi. Thậm chí nếu như đưa vào một công trình luận văn kiểu tìm tính dân tộc trong thi pháp thơ đồng quê, e có khi liệt kê ra hàng đống không gian nghệ thuật làng quê, thời gian nghệ thuật hồi tưởng, tâm thức nông dân... trong gần 40 bài thơ của anh. Và nếu tán giỏi thì Trịnh Hoài Linh khéo trở thành một hiện tượng, một phát hiện của nền thơ trên đường về nguồn quê hương! Xin anh lượng thứ cho những lời của một kẻ cày-đường vốn không rành lắm về nông dân, nông thôn vì đã không hít thở hương đồng có dễ hơn ba chục năm như tôi. Nếu anh là kẻ háo danh thèm tiếng thì cứ coi như đây là sự giễu cợt ba trợn của một kẻ chẳng hiểu gì mà múa ba tấc lưỡi. Nhưng tôi nghĩ mình dám bạo miệng mà nói những điều ấy, bởi Trịnh Hoài Linh là người làm thơ có chất ở đất Bình Định này, và nếu anh có chút ngông, chút dấn thân thì biết đâu sau cái Đại hội nhà văn trẻ năm nào lâu lắc, giờ đây anh đã có hàng chục tập thơ và tiếng tăm như cồn trên văn đàn, nếu sang trọng nữa thì kiếm chút quan chức văn nghệ tỉnh nhà! Chứ có đâu về lại với luống cày, với đồng quê - với Làng, Ruộng và Mẹ - tảo tần hôm sớm cuộc đời để nguyện làm một "lão nông tri điền" thứ thiệt. Anh dại chăng? Hay anh "khôn nẻ vỏ"? Dại - khôn cũng nằm ở miệng người đời thôi. Còn tôi tin Trịnh Hoài Linh chưa hề toan tính điều này, cứ hồn nhiên làm thơ, hồn nhiên chơi với bạn bè văn nghệ đến mức bị lợi dụng thì cũng chỉ lắp bắp không tin nổi sao mình là thằng cày ruộng mà nỡ lòng cũng bị lôi vào cuộc thị phi! Có hề chi, anh vẫn cứ "dzìa dzí Hậu" theo cách nói đặc sệt chất An Nhơn của mình.
Không tin sao được, khi gặp những vần thơ hồn hậu về cánh chim, như thấp thoáng chất đồng dao - nhưng không phải đuổi chim mà lại là gọi chim về:
Đậu xuống sân nhà ta
Hỡi cánh chim tha hương
Lúa của ta đã vàng
Sông ta đầy nước ngọt
Chim tha hồ mà ăn
Chim thỏa thuê mà tắm...
(Cánh Chim)
"Đất lành chim đậu!", Trịnh Hoài Linh đã mở đầu cho tập thơ của mình bằng những lời gọi chim, gọi thơ tung cánh trên cánh đồng làng hào phóng, trên mảnh đất mà anh dày công chăm xới, để thả sức thăng hoa hồn thơ khi mùa vàng đã tới. Ý tưởng thật ngộ nghĩnh nhưng cũng thật giản dị mộc mạc. Còn gì tha thiết và đáng quý bằng chính người nông dân nói về công việc của mình bằng thơ, để có cảm giác thư thái sau giờ phút đổ giọt mồ hôi thánh thót trên luống cày. Nên cũng dễ hiểu tại sao anh nói về quê hương bắt đầu bằng tình cảm tri ân sâu nặng, bắt đầu từ Người Mẹ:
Mẹ bỏ quên
Giọt mồ hôi trên đồng
Con cua cái ốc cho tôi cái chữ
Dảnh mạ quắt queo cho tôi rau cháo đỡ lòng.
(...)
Mẹ bỏ quên
Bỏ quên
Những điều tôi lại nhớ
Khói hương này xin dâng tạ mẹ tôi
(Mẹ bỏ quên)
Tôi thích những câu thơ không phải cố gắng lên giọng mà vẫn rõ mồn một là thơ của Trịnh Hoài Linh. Không cần phải giả vờ thành thật, không cần phải lên gân sám hối. Bóng bà, bóng mẹ, bóng chị... những người phụ nữ tảo tần cứ hiện lên những trang đời đắng đót trong thơ anh, chân thành như lời tâm tình gan ruột, được viết bằng sự hàm ân sâu xa:
Người đàn bà nhặt những hạt thóc
lẫn trong cỏ dại
như nhặt nỗi buồn của đất
chấp chới tuổi thơ tôi trang giấy ngày tựu trường
chữ o ngoằn ngoèo cũng từ quả cà
hạt thóc quả bưởi quả cau
lấp lánh giọt mồ hôi người mẹ...
(Người đàn bà nhặt thóc)
Triết lí về cuộc sống của Trịnh Hoài Linh cũng từ những mảnh đời gần gũi, từ làng từ ruộng mà thành hình. Cuộc sống hằn lên bao vết chân chim trên gương mặt, cũng hằn lên bao suy tư trăn trở về một làng quê luôn ám ảnh phận nghèo. Có lẽ nhiều người làm thơ về làng quê cũng có chung tâm trạng này, và đó cũng là thực trạng buồn khi làng quê Việt Nam qua bao đời rồi vẫn cứ đìu hiu nghèo khó buồn bã trong thơ. Nông dân thuần chất thì nghêu ngao đánh lừa cảm giác bằng cái kiểu "Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu thú lắm chứ..."; còn có chút chữ nghĩa có chút sĩ diện như Trịnh Hoài Linh lại thưởng thức cuộc sống theo hơi hướng người xưa - của những bậc hiền giả lánh đời. Có lúc học đòi Chống gậy trúc dạo chơi núi Bà, có lúc lại ngẫm ngợi Hương của đất:
Trở về đường đất ta thôi
Khói đồng mênh mang sương khói
Cơm hẩm dưa cà
Vỗ bụng hát
Thân phận con người hề
Bèo bọt phù vân...
Cái lối ca ngợi cuộc sống Hàn cư như thế, thực tình tôi không thích lắm, vì nó cũ. Và yếm thế! Giọng điệu ấy dễ lẫn lộn và cũng dễ bị những kẻ láu cá lợi dụng khen lao, ngâm nga để dễ dẫn dắt đến ngộ nhận ở con người vốn thiệt thà không nhiều tham vọng như Trịnh Hoài Linh.
Trong tập thơ có những bài anh thoát ra khỏi không gian làng, khi anh viết trong vai trò của một hội viên văn nghệ đi dự các trại sáng tác. Chẳng hạn những bài viết về Đà Lạt, hồ Xuân Hương, Vũng Tàu...nhưng đi đâu cũng về lại với làng quê, với những lo toan mưa nắng lam lũ của người miền Trung giữa vùng đất lạ:
Đêm Vũng Tàu tôi thức cùng những người đồng hương
(...)
Họ tựa vào nhau
trở về những căn phòng thuê chật chội
ẩm ướt khi gà vừa cất tiếng gáy
cuộc mưu sinh ngày mai còn lắm vất vả
Dải đất miền Trung như gương mặt nông dân
Người miền Trung cõng cái nghèo lưu lạc.
            (Thức cùng đồng hương)
Có lẽ vì thế cho nên với Trịnh Hoài Linh, làng vẫn là nơi tìm thấy chút yên bình để có thể "bắt đầu từ gốc rạ/tôi nhận ra tôi", để Cuối năm uống rượu với bạn làm ruộng. Và trên hết, làng là nơi đón nhận những chân tình, là nơi bao người thân yêu cùng gắn bó sinh tử, là nơi kí thác nguyện ước tâm linh. Xin khép lại bài viết bằng bài thơ Về làng - theo tôi như mang trọn nỗi niềm của Trịnh Hoài Linh:
Về làng
Cúi lạy bờ tre
Rêu phong giếng lạn
Chợ quê trưa người

Về làng hầu chuyện rau khoai
Tóc quê lũ rối
Bời bời bão giông

Về làng
Vịn gốc nghĩa nhân
Mai sau con cháu
Vẫn còn chốn quê

Về làng cạn cốc rượu khê
Tỉnh say say tỉnh
Bên lề văn chương

Về làng còn có người dưng
Cho ta nắm đất
Nén hương bìa làng.
Tôi cũng nghĩ, chỉ có Làng mới thật sự đem lại cho Trịnh Hoài Linh một hồn thơ phong phú, để thơ anh có thể gặp gỡ với những hồn tri âm đồng điệu, ươm mầm cho những bài thơ mới của anh kết thành mùa thơ trĩu hạt.
                                                            Quy Nhơn, tháng 11 năm 2010
                                                                        Trần Hà Nam

Nhà thơ Trịnh Hoài Linh

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

Chuyện xưa chuyện nay...

Trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 hiện nay đưa vào học thể loại Bình Sử, có nhiều gợi mở trong cách thức tiếp cận! Trước kia, có tủ sách "Những vì sao đất nước" của NXB Kim Đồng, những truyện như thế có thể đến được với trẻ em từ rất sớm. Cho đến tận bây giờ, mấy chục năm trôi qua, những chuyện kể về các danh nhân đất Việt vẫn còn in đậm trong tâm trí.
Bẵng đi khá lâu, chẳng biết từ khi nào những dạng bài học từ lịch sử kiểu như vậy không còn xuất hiện trong sách giáo khoa cũng như trên thị trường xuất bản truyện thiếu nhi là sự xâm lăng của truyện tranh với không ít những truyện vô bổ, hoang đường. Đến bây giờ, kiểu bài bình sử mới đưa vào trong sách giáo khoa lớp 10 quả là muộn màng! Học trò tiếp cận bài học, ngơ ngơ ngác ngác, ngáp ngắn ngáp dài vì các em mù mờ về lịch sử, không có nền tảng từ tuổi thiếu nhi.
Nhưng thà muộn còn hơn không! Chương trình Ngữ Văn có quá ít những bài để khơi dậy cảm hứng tự hào về danh nhân đất nước! Một thời sa vào chủ nghĩa kinh viện, học tác giả tác phẩm theo kiểu hàn lâm. Một thời lại quá sa vào chủ nghĩa đề tài... mà rất ít những tác phẩm hình thành nền tảng đạo lý cho học sinh trên tinh thần ôn cố tri tân.
Chẳng hiểu sao, mình lại hứng thú đặc biệt với kiểu bài bình sử! Có lẽ nó gợi nhớ một thời thiếu nhi mê mẩn với "Trên sông truyền hịch", "Trăng nước Chương Dương", "Những vì sao đất nước", "Chọn soái", "Lá cờ thêu sáu chữ vàng"... Lịch sử đã thấm vào mình bằng những câu chuyện rút ra từ sách sử, từ những mẩu chuyện sinh động, chứ không phải là những bài lịch sử với kết cấu nhàm chán: sự kiện - diễn biến - kết quả - nguyên nhân - ta thắng địch thua, diệt bao nhiêu tênm thu bao nhiêu súng...
Như trong hai bài học ở sách Ngữ Văn 10 nâng cao: Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ. Với mình, nó không mới, nhưng giờ tiếp cận từ góc độ một giáo viên, vẫn ngẫm ra nhiều điều thú vị. Dù cho hình thức của các tác phẩm Bình Sử có phần hơi xa lạ với tư duy thời nay, nhưng ít nhiều cũng giúp cho hiểu cách người xưa đánh giá về các nhân vật lịch sử. Không phải chỉ là chức danh, hành trạng mà cách nhìn, đánh giá chủ yếu theo những chuẩn mực về tài năng, đức độ, dưới góc nhìn chân thực của sử quan. Chẳng hạn quanh các xung đột giữa Tô Hiến Thành và Thái hậu quanh việc thực hiện di chiếu của tiên vương, để hiểu về ý thức trung quân của kẻ sĩ gắn kết phẩm chất "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất"; chuyện chọn người của Tô Hiến Thành không giống kiểu cất nhắc cán bộ ở một số nơi bây giờ chủ yếu vì cánh hẩu, vì ê kíp mà không thèm quan tâm đến ích nước lợi dân! Chuyện quan xưa đáng cho quan nay học tập! Hay như thái sư Trần Thủ Độ, được sử ghi lại không hề tô vẽ là người ít học nhưng lại có tài thao lược, một tay dựng nghiệp nhà Trần, đầy bản lĩnh đối mặt sự thật, thưởng phạt nghiêm minh, khiến trên dưới đều nể phục! Những bài học như thế, chỉ cần các em ghi nhớ, sẽ phần nào giúp các em hiểu về cha ông, học cách xử thế người xưa mà sống đàng hoàng có nhân cách. Mai mốt có làm quan thì cũng có chút ít định hướng thế nào là quan trí đích thực!
Còn nhiều vấn đề, nhưng muốn bàn sâu bàn kĩ, cần phải hình thành một chuyên luận, không phải là mục đích của entry trên blog này!

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

Suy ngẫm...

Mười năm dạy trường chuyên Lê Quý Đôn.
Các thế hệ học sinh ngày đầu và thế hệ học sinh bây giờ đã thấy sự khác biệt rõ nét. Dù là 8X hay 9X thì các em có thể xem là cùng thế hệ. Thế nhưng đang có sự chuyển hóa về chất. Có thể sau này điều kiện các em đầy đủ hơn, việc vào trường chuyên không còn là nỗi băn khoăn với những học sinh thật sự có năng lực, vì cái đích duy nhất bây giờ các em hướng tới là thi đậu Đại học. Mà xem ra, môi trường hữu hiệu nhất là trường chuyên! Khác biệt trong nhận thức của 8X và 9X cũng từ đây!
Trước kia, niềm vui nhân lên trong những ngày đầu là sự ngất ngây của cả thầy lẫn trò, những cảm xúc không bao giờ quên được. Còn bây giờ, đậu học sinh giỏi là nhiệm vụ và gánh nặng của cả thầy lẫn trò. Thầy vì danh dự người dạy, trò vì áp lực bị vào đội tuyển. Đội tuyển đã không còn là niềm vinh quang số 1 mà chỉ là dịp chứng tỏ đẳng cấp dân chuyên. Nhưng khi đến đích sớm thì ngay lập tức các em muốn rời bỏ cái đích ấy càng nhanh càng tốt! Có nhiều lý do: sự thay đổi cách nhìn nhận môn chuyên, động lực vào thẳng của học sinh giỏi không còn, ít nhiều một số giáo viên, gia đình và cá nhân học sinh xem hiệu quả thực dụng là hàng đầu!!! Tuy nhiên, thật là cực hình khi lên lớp, thầy giáo cứ phải đốt cạn kiệt ngọn lửa đam mê nhưng chẳng may bị nhúng vào một nhúm giẻ ướt ỉu xìu!
Biết rằng không nên đòi hỏi một sự hy sinh cho một mục đích thiếu rõ ràng! Biết rằng mỗi thời có sự thay đổi trong quan niệm sống. Thế nhưng, với một thế hệ sớm tắt ngọn lửa đam mê cống hiến, sớm biết mùi thực dụng khá sớm, thì những gì thầy giảng trong lời văn có đủ làm các em háo hức như lớp học trò thưở xưa? Khi nghị luận xã hội trở lại với mục đích giáo dục, tăng cường kỹ năng sống cho các em, nhưng mau chóng bị biến tướng thành công thức, thành khuôn sáo, các em có đủ năng lực tiếp cận những tư tưởng đạo lý tốt đẹp, có hành vi ứng xử đẹp, hướng về những chuẩn mực CHÂN - THIỆN - MĨ như thầy cô mong đợi? Hay đang có một chuẩn mực khác, không phải từ phía nhà trường, đang hình thành một cách tự phát, đang bủa vây môi trường sống học trò, khiến cho những vấn nạn học đường bùng phát, khiến các em tự xây dựng  cho mình những vỏ bọc biện minh cho một kiểu sống mang đậm màu sắc thực dụng như hiện nay? Đại đa số các em hay chỉ "môt bộ phận"? Có phải chăng người thầy ngày càng trở nên bi quan trước chính học trò mình?
Tại sao? Tại sao? Đến bây giờ thầy vẫn đang đi tìm một lời giải đáp!

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

CHUYỆN CƯỜI RA NƯỚC MẮT TRONG BÀI THI TỐT NGHIỆP HỆ GDTX

Đáp án giống nhau, sai giống nhau

Vừa rồi chúng tôi chấm bài cho hệ giáo dục thường xuyên của hai hội đồng tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum, gặp lắm chuyện cười ra nước mắt. Một thực trạng khi chấm bài thi Giáo dục thường xuyên (GDTX) là có rất nhiều bài thi giống nhau trong những câu hỏi giáo khoa, có khi cả một phòng thi chỉ có một kiểu trả lời, đều giống nhau ở chỗ thiếu và sai so với đáp án chuẩn giống nhau. Điều đó chỉ có thể giải thích là học viên chép từ cùng một nguồn tài liệu, nhưng vì không có biên bản nên giám khảo coi như là học sinh cùng được hướng dẫn ôn tập ở một nguồn. Rải rác có những bài làm văn ở hai phòng khác nhau nhưng có những chỗ sai thì lại giống y như nhau, giám khảo cũng chỉ biết lắc đầu cười trừ mà đối chiếu đáp án cho điểm, vì không có cơ sở để lập biên bản chấm.

Những câu văn cười ra nước mắt

Đề giáo dục thường xuyên, ở câu 1 yêu cầu nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, có thí sinh viết: “Bài thơ Tây Tiến được ra đời trong lúc tác giả cùng đồng đội hành quân xuyên rừngsang giúp nước bạn Lào chống lại chế độ diệt chủng Pôn Pốt giành độc lập”. Một thí sinh khác lại viết : “Tây Tiến là đơn vị được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Pháp ở biên giới Việt Lào cũng như ở vùng Tây Bắc …”. Một thí sinh còn sáng tạo kinh hoàng khi viết Quang Dũng sinh ra ở Huế, làm văn nghệ sĩ ở xứ Nghệ, và tiếp tục tán “Ông sứng đáng là một người háo danh. Truớc lúc ông đã ra đi tìm đường cứu nước ông vì một người mà phải hy sinh anh dũng thật là khổ danh là một người lính Tây Tiến…vào năm một ngàn chín trăm sáu bảy, ông đã từng đi du học nước ngoài ở Mĩ. Trước khi ông hy sinh ông đã làm một kiến trúc sư…Ông còn làm một tập truyện ngắn, nhật kí trong tù của Phạm Tiến Duật…”. Thật là hãi hùng kiến thức học sinh!

Câu làm văn 5 điểm với đề phân tích hình tượng Rừng xà nu trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, giám khảo lại được chứng kiến những câu văn kinh hoàng!

Một thí sinh hội đồng thi Kon Tum viết: “…rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành sẽ mãi còn được đưa vào chương trình học của học sinh vì bài này luôn nhắc nhở mỗi con người chúng ta phải biết yêu thương rừng. Vì rừng đã bảo vệ chúng ta trong chiến tranh mà rừng còn là lá phổi của chúng ta. Con người không thể sống nếu không có phổi…”. Một học sinh khác viết “Xà nu đã giúp cho con người sống có lúc không nhà. Nguyễn Trung Thành đã cảm nhận được công từ rừng. Hình tượng về rừng giúp con người nhớ mãi không thể quên được.vì con người đã chặt phá củi vì vậy rừng đã có bão…”

Một bài thi đáng suy ngẫm

Những kỳ chấm thi tốt nghiệp, không tránh khỏi gặp những bài thi cười ra nước mắt. Nhưng làm giám khảo tại hội đồng chấm thi tốt nghiệp Bình Định 2010, chúng tôi đã được đọc một bài thi của học viên giáo dục thường xuyên đáng suy ngẫm! Bài làm câu 2 về vai trò của nhà trường trong việc truyền thụ kiến thức văn hoá cho học sinh, một học viên ở Kon Tum đã viết như sau:

“Như chúng ta thấy rõ trước mắt việc truyền thụ kiến thức văn hoá là quan trọng nhất. Sau này có đi đâu chúng ta không biết kiến thức văn hoá cũng bằng không. Thời hiện đại chúng ta cần phải học hỏi nhiều kiến thức bên ngoài hơn để sau này ra ngoài xã hội chúng ta còn có thể học thêm được nhiều việc có lợi cho bản thân. Thời bây giờ người địa phương cũng như người Kinh đều khuyên các con em lên trường học, dù chúng ta học dốt nhưng chỉ cần mình biết được kiến thức và cố gắng chắc chắn mình cũng có thể vượt qua được chính mình. Kiến thức đối với con người chúng rất quan trọng. Chúng ta có kiến thức mới có thể làm được việc như bản thân mình đã mong ước, cũng giống hiện tại giờ chúng đang dự thi tốt nghiệp năm 2010, lúc mà trong thời ôn tập để thi chúng ta cũng đã biết rõ cái đầu chúng có giới hạn, học bài nhiều đầu càng rối tung lên – trong thời gian ta ôn chúng ta nên có thời gian giải trí đầu óc để có trí óc để có thể học bài để mà có kiến thức. Truyền thụ kiến thức có thể cho chúng ta hiểu biết nhiều việc, trong trường học cũng như ngoài xã hội. Chúng ta ra ngoài xin việc người ta cần nhất là những ng` có kiến thức cao mới có thể xin được việc làm. Chúng ta cũng biết thời học sinh sinh viên hiện đại người ta đang cần nhiều kiến thức để có thể lập được nghiệp, biết được kiến thức càng nhiều càng tốt càng có lợi cho chính bản thân mình. Ví dụ như mình xin việc trong một công ty nào đó – mình chỉ sai xót chút ít, người ta nói mình thế này thế kia, chửi hay la mắng, mình hãy nhớ lời họ dạy bảo để rút kinh nghiệm để có thêm nhiều kiến thức hơn. Giờ đang trong thời gian thi tốt nghiệp, có rất nhiều thí sinh mang tài liệu vào phòng thi, theo em mắt thấy dù có mang tài liệu cũng không được coi, cần gì phải mang mất công bị đình chỉ không được vào phòng thi, mồ hôi và nước bọt bao nhiêu năm mình đã cố gắng cuối cùng đi thi mang tài liệu. Chúng học bài biết đến đâu thì làm đến đó, mình học ít thì biết kiến thức ít, học nhiều thì biết thêm nhiều hơn.”

Quả thật một bài thi không đúng đáp án nhưng phản ánh khá trung thực tình trạng học tập cũng như thi cử của học viên giáo dục thường xuyên, phản ánh thực trạng của giáo dục. Thí sinh này làm bài không tốt nhưng so với các bài làm trong nhiều túi giám khảo chấm, đây là bài làm trung thực nhất. Ngoài ra một số bài có những ý khiến giáo viên chúng ta phải giật mình, khi thí sinh viết “nhưng điều mà em muốn nói nhất trong ngành giáo dục là sự thờ ơ của một số thầy cô giáo trong việc truyền thụ kiến thức văn hoá cho chúng em là họ còn nhìn việc học để trao dồi kiến thức của chúng em còn chưa hết mình và còn dạy theo sách giáo khoa họ chưa sáng tạo được những môn mà họ dạy…”. Hay một thí sinh khác viết: “Và một lần nữa em muốn nói đến việc truyền thụ kiến thức văn hóa cho chúng em còn chưa quan tâm lắm. Đó là một số thầy cô giáo còn phân biệt người Kinh và dân tộc, điều đó cũng làm ảnh hưởng tới mỗi người nên em thấy việc này còn làm nặng lòng cho chúng em, còn về bên nhà trường thì luôn là sự an ủi của chúng em và còn là nơi chúng em nên người”.

Phải chăng chúng ta, những người làm giáo dục cần nhìn lại chính mình trước khi cười bài làm của thí sinh trong các kỳ thi tốt nghiệp?

TRẦN HÀ NAM

(Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn, Bình Định)

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Nguyên Tiêu ở Quy Nhơn hoành tráng xúc cảm



Hoành tráng, xúc cảm là những mỹ từ mà nhiều khán giả đã nhận xét về đêm thơ Nguyên tiêu do CLB Văn học Xuân Diệu thực hiện dưới sự tổ chức, chỉ đạo của Trung tâm Văn hóa Bình Định. Từ 16 giờ đến 22 giờ, không khí thơ phủ trùm ở khu vực tượng đài Quang Trung, trung tâm thành phố Quy Nhơn.
Chúng tôi xin giới thiệu dưới đây bài viết của Tuyết Nhung đã đăng trên baobinhdinh.com.vn

Cuộc sống thơ

TUYẾT NHUNG

Cuối cùng, vẫn có ngày thơ, đêm thơ ở Quy Nhơn, nơi được mệnh danh là "thành phố thi ca", rằm tháng giêng năm Canh Dần 2010 này. Nói thế vì, cho đến tết, đơn vị nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức "Ngày thơ Việt Nam" và "Đêm thơ Nguyên tiêu" hằng năm không làm cái ngày- đêm thơ đã thành truyền thống này ở thành phố Quy Nhơn. Và một Câu lạc bộ văn học đã lấp đầy khoảng trống.

Đối với người làm thơ và công chúng yêu thơ của Quy Nhơn, Bình Định, sẽ không thể hình dung nổi nếu Rằm tháng giêng năm nay, Ngày thơ Việt Nam lần thứ VIII và Đêm thơ Nguyên Tiêu, thành phố này không có hội thơ. Dù tổ chức trên Đồi Thi nhân (Ghềnh Ráng) hay tại các địa điểm trong nội thành, chuyện mỗi năm có một ngày đất nước giỏi đánh giặc tôn vinh thơ đã thành lệ. Và khi, người thực hiện sân chơi vừa nghiêm trang vừa vui vẻ cả làng này là Câu lạc bộ Văn học Xuân Diệu (CLBVHXD- trực thuộc Trung tâm VHTT tỉnh), người làm thơ và yêu thơ Bình Định vẫn thực sự hài lòng. Vấn đề không phải ai tổ chức, mà là tổ chức như thế nào (may thay, không có chuyện không tổ chức!). Cần nói thêm, năm này cũng là năm thứ 20 ngày thành lập CLBVHXD. 2O năm đều đặn sinh hoạt mỗi tháng một lần, 20 năm nối tiếp nhau những thành viên khẳng định tên tuổi mình trên văn đàn trong tỉnh, trong nước. Câu lạc bộ mang tên thi sĩ Xuân Diệu quy tụ những người yêu thơ cho cuộc tồn tại 20 năm qua cũng chính là người, bằng tình yêu và trách nhiệm với thơ đã tự nguyện xúm tay làm cái ngày thơ đêm thơ thứ 8 này.

Xã hội hóa thơ

Đúng hơn là cuộc sống thơ hay thơ đã sống như thế nào? CLBVHXD chỉ có nguồn kinh phí được cấp là trang hoàng sân khấu, âm thanh ánh sáng, phần kinh phí chính cho ngày và đêm thơ là vận động từ các nguồn tài trợ. Nhà tài trợ chính cho hoạt động này của CLB là Bidiphar, Cty Dược- Trang thiết bị y tế Bình Định. Và nhiều "Mạnh thường quân" khác. CLB cách đây mấy tháng cũng từng tổ chức thật chu đáo ngày giỗ cố thi sĩ Xuân Diệu cũng bằng cuộc "chung tay" đầm ấm. Thực ra, thơ và người thơ trên đất nước này chưa bao giờ bị hắt hủi, trên miền "Đất võ trời văn" Bình Định lại càng được tôn vinh. Nhìn vào cuốn "sổ vàng" các đóng góp, ngoài đơn vị tài trợ chính, bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy tên của những cá nhân và doanh nghiệp chẳng dính dáng gì tới thơ: cơ sở chế biến nước mắm, cà phê, công ty sắt phế liệu, công ty kinh doanh địa ốc, và chính từng thành viên của CLB. Khoản kinh phí cả chục triệu cho chương trình khá rậm rạp ngày và đêm thơ bằng các nguồn tài trợ chỉ minh chứng một điều, những việc làm có ích cho cộng đồng và không vụ lợi, thêm một lần nữa khẳng định là sẽ được sự ủng hộ của cộng đồng.

Hoành tráng thơ

Ngày thơ ngay trước Trung tâm Văn hóa tỉnh bên tượng đài Quang Trung đã thu hút sự chú ý của công chúng với các hoạt động rất ấn tượng. Những bức thư pháp thơ được nhà thư pháp Bình Tuy viết và trưng bày khá sinh động. Thêm "cụ đồ" Vũ Ngọc Liễn "cho chữ" đầu xuân bằng chữ Hán đã tập hợp khá đông người yêu thơ. Cả những cuốn sách của các thành viên CLB và nhiều tác giả khác gửi tới trưng bày hoặc gửi bán cũng làm cho buổi chiều này thêm phong phú. Ở sân khấu bên cạnh là cuộc giao lưu thơ của các câu lạc bộ: CLB thơ Đường, CLB thơ Đại học Quy Nhơn, CLB thơ trường PTTH Quy Nhơn, CLB thơ Trường chuyên Lê Quý Đôn... và nhiều gương mặt thơ đủ mọi lứa tuổi. Và náo nức cuộc thi thơ nhanh: Ban tổ chức công bố đề tài và thể lệ xong là tới tấp những bài thơ viết tay gửi tham gia thi. Sân khấu thơ đã là cuộc hội tụ của các giọng thơ học trò đến thất bát tuần, cuộc hòa đồng của nhà thơ chuyên nghiệp và người yêu thơ ngâm ngợi.

Thơ và công chúng

Từ người tổ chức (Trung tâm VHTT Bình Định) đến người thực hiện (CLBVHXD) đã thành công khi đưa thơ đến với công chúng. Sân chơi chung cho người làm thơ và người yêu thơ đã có những hội tụ chan hòa. Sau 2 bài thơ có tính truyền thống "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt và "Nguyên tiêu" của Hồ Chí Minh là thơ của những người thơ Bình Định. Chứ sao, đây là ngày thơ đêm thơ trên đất thơ Bình Định kia mà! Đã hơn 50 bài thơ của ngần ấy tác giả đến với công chúng trong 4 giờ thể hiện, chiều và tối. Đã có những gương mặt thơ quen thuộc của Bình Định đến với công chúng: Lệ Thu, Văn Trọng Hùng, Mai Thìn, Trần Quang Khanh, Võ Ngọc Thọ, Trần Viết Dũng, Đặng Quốc Khánh, Nguyễn Thanh Xuân, Hồ Thế Phất, Khổng Vĩnh Nguyên..., đến với người yêu thơ, ngày và đêm thơ Bình Định còn ngạc nhiên thưởng thức những vần thơ hay của các em học sinh, của những doanh nhân yêu thơ. Và 2 câu, 4 câu của nhà thư pháp Bình Tuy, một chữ Hán mực Tàu, giấy điều của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã thực sự góp phần làm cho thơ và người yêu thơ gần nhau hơn bao giờ hết.

Lời kết

Nhà nước đang có chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa văn nghệ. Cuộc mạnh dạn tổ chức Ngày thơ Việt Nam và Đêm thơ Nguyên tiêu của Trung tâm VHTT tỉnh Bình Định và đưa thơ đến với công chúng là việc làm đáng khích lệ. Thêm một lần nữa, Ban chủ nhiệm CLBVHXD đã thành công khi chỉ có 7 ngày lo liệu với hai bàn tay trắng! Thành công này chỉ khẳng định người thơ, người yêu thơ, và người tổ chức luôn còn "đất" nếu xuất phát điểm chỉ vì THƠ! Và những câu thơ hay của người thơ Bình Định đã bay lên trời rồi sẽ rơi vào tay ai yêu thơ hay không yêu thơ như một niềm vui trong hàng trăm quả bóng bay...

T.N

Xin giới thiệu một số hình ảnh thơ Nguyên tiêu ở Quy Nhơn của NSNA Trần Hoa Khá


Đồ Liễn cho chữ



Thơ mượn bóng bay lên trời



Thư pháp Bình Tuy viết mỏi tay


Hoàng Vân, học sinh trường THPT chuyên Lê Quý Đôn và chương trình thơ buổi chiều



Khán giả của chương trình Hội thơ buổi chiều



Cả mẹ con người phụ nữ khuyết tật này cũng mê thơ



Chủ nhiệm Trần Quang Khanh trao thưởng cho những người đạt giải thi thơ nhanh




MC Quang Khanh điều hành phần lễ Đêm thơ Nguyên tiêu


Nhạc sĩ Đào Minh Tâm, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa, Trưởng ban tổ chức, đánh trống khai hội




Nhà giáo ưu tú Trương Tham đọc Cảm nhận thơ Nguyên Tiêu của Bác



Trăng Nguyên Tiêu hòa cùng đêm thơ Nguyên Tiêu



Đại biểu thả thơ lên trời




Tiết mục múa "Ngàn năm Thăng Long" của đội Văn nghệ BVĐK Bình Định chào mừng đêm thơ



Điệu đà MC Mỹ Nữ



Năng động MC Hà Nam



Nghệ sĩ Băng Châu ngâm thơ



Nghệ sĩ Bích Hạnh ngâm thơ




Nghệ sĩ Tăng Tri ngâm thơ



Diễn viên Thanh Hải ngâm thơ


Nghệ sĩ Thùy Dung ngâm thơ



Khán giả thăng hoa và chìm đắm với thơ



Tiết mục ca nhạc cuối cùng được trình diễn lúc 22 giờ

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2009

CON NGƯỜI QUA TÁC PHẦM BÀ LÃO IDECGHIN... (KẾT)

Truyền thuyết về chàng Đankô là bài ca tuyệt đẹp về sức mạnh của con người với ánh lửa rực cháy của lý tưởng sống. Đây là con người có tính cách tương phản với Larra - kẻ từ bỏ đồng loại của mình. Bóng đêm, đầm lầy và khu rừng tượng trưng cho những thế lực đen tối muốn ngăn cản sức vươn tới của con người. Những thế lực ấy đã làm cho những người trước kia vốn hùng dũng, quả cảm đã phải chùn bước. Trong hoàn cảnh hết sức điển hình ấy, bản chất của mỗi con người được bộc lộ rõ ràng. Đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết, kẻ mất tinh thần đã “kinh hoảng trước cái chết, không ai còn sợ cuộc đời nô lệ nữa…”. Giữa lúc ấy “Đankô xuất hiện”. Cái quyết tâm của chàng trai là ý chí sắt đá của con người trước mọi trở lực nguy nan, là ý chí của những người dám hành động. Chỉ có những người dám hành động thì mới có thể biến ước mơ thành hiện thực “Nghĩ ngợi không thể hất bỏ được tảng đá trên đường ta đi. Kẻ nào không mó tay vào việc gì thì chẳng làm nên công chuyện gì. Cứ nghĩ làm chi cho hao tâm tổn sức? Hãy đứng lên, chúng ta sẽ đi vào rừng và xuyên qua rừng, bởi vì rừng cũng có chỗ kết thúc, mọi cái trên đời đều có chỗ kết thúc! Ta đi đi! Nào! Tiến bước!...”. Sức mạnh của Đankô là sức mạnh của người quả cảm, sức mạnh của con người tự tin vào bản thân mình. Đankô, chàng trai dũng mãnh dẫn đầu đoàn người đã phải đối chọi với cái hèn nhát của con người khi họ gặp trở lực mới. Mâu thuẫn xung đột lên đến đỉnh điểm khi đoàn người dừng lại và kết án Đankô. Những lời lẽ của chàng trai một lần nữa chứng minh cho giá trị chân chính của con người: “Tôi có gan dẫn đường và tôi dẫn các người đi! Còn các người, các người đã làm gì để tự giúp mình? Các người chỉ cắm cổ đi và không biết giữ sức để đi được lâu dài hơn! Các người chỉ mải miết như đàn cừu!”. Giá trị chân chính của con người là đi và biết hướng phải đi tới. . Chàng Đankô cũng bị chính đồng loại của mình đẩy vào ranh giới của sự sống và cái chết. Trong con người anh giờ cháy lên hai ngọn lửa: ngọn lửa uất hận trước sự u tối của con người và ngọn lửa của tình yêu thương đồng loại. Cái cao thượng của Đankô đang đối chọi với cái thấp hèn của bầy người u mê. Một điều tất yếu sẽ xảy đến: Đankô phải chết, và Con - Người - viết – hoa ấy đã chọn cái chết cho bản thân, cái chết cho đúng với bản chất con người cao thượng của anh. Hành động anh hùng “xé toang lồng ngực” đã làm nên điều thần kỳ; Đankô đã nâng những tâm hồn đồng loại lên. “Trái tim cháy sáng rực như mặt trời, và cả khu rừng im lặng, sáng lên dưới ngọn đuốc của lòng thương yêu vĩ đại đối với mọi người”. Mặt trời chỉ có một, Đankô chỉ có một trái tim, cuộc sống chỉ có một chân lý vĩnh cửu; ánh sáng cháy rực của trái tim Đankô chính là ánh sáng của chân lý. Con Người ấy trong những giờ phút phải giáp mặt giữa ranh giới của sự sống và cái chết, sự căm thù và lòng thương yêu, cá nhân và tập thể, đã chọn con đường hành động theo đúng nghĩa con người, đánh thức những phần tốt đẹp trong bản chất con người. Hình tượng Đankô đầy tính lãng mạn mà M.Gorki đã xây dựng nên tượng trưng cho hình mẫu lý tưởng của con người. Qua hình tượng Đankô, tác giả muốn nhắn nhủ con người: hãy vươn lên đến những chân trời tốt đẹp hơn.
* *
*
Dựng lên ba mẩu chuyện, ái hư chen cái thực, cái thực hoà vào cái hư, bút pháp lãng mạn của M.Gorki đã đem đến cho chúng ta một tác phẩm tuyệt vời. Với truyện ngắn “Bà lão Idecghin”, M.Gorki đã gửi gắm đến chúng ta một nhận thức đẹp về con người, thúc đẩy chúng ta vươn lên đến giới hạn của con người, CON-NGƯỜI-VIẾT-HOA; đó là giá trị nhân văn trong tác phẩm này của ông cũng như bao tuyệt tác khác, ông đã từng cất lên những lời ca bất tuyệt về con người: “Con Người, tiếng ấy tự hào biết bao”
7.11.1987
TRẦN HÀ NAM
(Văn 2B khoá 9 )
(Đánh lại vi tính xong ngày 31.12.2009)