Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Ấn tượng Cần Thơ


Hình ảnh Cần Thơ trong chuyến dẫn học sinh đi thi học sinh giỏi Olympic toàn miền Nam tại Cần Thơ: đi du thuyền trên sông Hậu thăm chợ nổi và miệt vườn - vườn Mận!

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Với tôi, Trịnh Công Sơn...

Có lẽ tôi bắt đầu biết nghe nhạc Trịnh từ cuối thời phổ thông và suốt những năm tháng học Đại học. Tôi tự hào vì ông là sinh viên trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, vì vậy khi nghe những Biển Nhớ, Hạ Trắng...tôi cứ cố hình dung ông viết ở nơi nào trong khuôn viên của trường Đại học!

Cũng lạ, chẳng hiểu sao những năm 86 - 90 quán xá lại nhiều băng Khánh Ly hát đến thế, có điều thời đó còn nhầm lẫn khi Khánh Ly hát Trầm Tử Thiêng mà cũng nghĩ đó là Trịnh! Cũng phải thôi, vì chúng tôi đâu có sinh ra và lớn lên ở miền Nam, đâu có dịp tiếp xúc hết với gia tài của Trịnh. Còn nhớ ở Quán cà phê Kem - Biên Cương ngồi nghe và hình dung qua những ca khúc Da Vàng: "Đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi lắng nghe...", thương cho đất nước và con người Việt Nam phải chịu cảnh đạn bom khốc liệt quá lâu! Và cảm nhận nỗi đau của người nghệ sĩ qua lửa đạn chiến chinh!

Còn nhớ những khoảnh khắc hàng giờ liền ngồi thiền nghe nhạc Trịnh, cảm nhận qua màn mưa những lời thủ thỉ "...mưa vẫn mưa bay qua miền đất rộng - Ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau..."! Nhạc Trịnh nghe vào những ngày mưa buồn thật, nhưng lại thấy lòng trong trẻo lạ! Có khi đi chơi vào Gành Ráng hay Quy Hòa, gặp hôm nắng đẹp là lại nghêu ngao: "Gọi nắng, trên vai em gầy, đường xa áo bay, nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say..."

Rồi mưu sinh mỏi mệt, thành công và thất bại trong cuộc sống cũng nhiều, lại tìm đến Trịnh như một nguồn an ủi, như tìm chút động viên. Còn nhớ, khi trải qua cảm giác ê chề vì bị sỉ nhục (dù rằng là thông tin sai), cả một đêm nghe đi nghe lại không chán bài hát "Tôi ơi, đừng tuyệt vọng" qua giọng ca của chính ông, và nhận lời an ủi của anh bạn cùng trường đang học bên kia bờ đại dương, thấy lòng vơi phiền muộn rất nhiều. Và như phép màu, qua 1 giờ đêm, từ nỗi tủi nhục biến thành niềm hạnh phúc vô bờ khi thông tin được đính chính. Lại có cảm giác Trịnh như đã đến bên mình, dịu nhẹ vỗ về...

Và còn bao lần nghe Trịnh, trong cảm giác lòng thắt lại vì thương những cảnh ngộ thiệt thòi, những số phận trớ trêu. Lúc ấy, lại vang lên lời hát như nhắn nhủ: "Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi..."

Vâng, để gió cuốn đi....

Thấm thoắt đã 10 năm. Ngày ấy, ngồi tại trường, đúng ngày Cá tháng Tư, đọc tin trên báo cứ ngỡ ngàng sửng sốt như một trò đùa. Tạo hóa thật nghiệt ngã chọn đúng ngày Cá để đón Trịnh về...Đến nỗi, khi đưa thông tin nóng lên mạng home.vnn.vn mình còn bị mắng: đùa gì mà ác thế! Và hơn 10 ngày sau, khi có mặt tại Sài Gòn, mình đã đến quán Sài Gòn Xanh dự một đêm tưởng niệm Trịnh thật đặc biệt do nhóm bạn ở Quãng Ngãi tổ chức. Hôm đó, đã hát như lên đồng liên khúc "Cát Bụi - Tình Xa", dù còn có chút vấp váp nhưng cũng đủ cho cảm nhận nỗi bàng hoàng: Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi, cát bụi mệt nhoài, mặt trời soi một kiếp rong chơi(...) Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày (...) Ngày tháng nào, đã ra đi khi ta còn ngồi lại, cuộc tình nào đã lên khơi ta còn mãi nơi đây. Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mê...

Thấm thoắt đã 10 năm, nhạc Trịnh vẫn còn làm ta nhớ bao ngày tháng đã đi qua, dù cho "mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi". Nhạc Trịnh vẫn vang ngân, "dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai..."

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Thơ Trần Hà Nam treo tại Nhạn Tháp (Phú Yên)


Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện đi Phú Yên dự ngày thơ, đã chụp được bài thơ treo trên đường lên núi Nhạn Tháp của Trần Hà Nam! Một kỉ niệm đẹp và anh đã gửi cho tôi những bức ảnh này!
Ảnh 1: Bài thơ SEN VÀ BÙN
Ảnh 2: Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện bên bài thơ trên đường lên núi Nhạn


Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

LẠM BÀN VỀ PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC TRONG ĐỀ THI HSG QUỐC GIA NGỮ VĂN 2011


Đề cho : Mỗi hình tượng nhân vật phụ nữ thực sự thành công bao giờ cũng là kết quả của sự phát hiện sâu sắc về nữ tính. Và yêu cầu phân tích một số tác phẩm từ VHDG đến văn học hiện đại để làm sáng tỏ nhận định. Một đề văn như thế này, xác định rõ khái niệm đã đổ máu mắt, huống chi phải làm một tập hợp từ cả hai bộ phận văn học, phải làm sao bao quát cả văn đến thơ, kịch... và phải giải quyết gói gọn trong khoảng thời gian nhiều nhất là 150 phút (bời lẽ câu NLXH 8 điểm cũng không thể viết dưới 30 phút được!) trong tổng thời gian 180 phút.
Thực ra khái niệm tính nữ trong văn chương đã râm ran từ những năm bắt đầu có sự chuyển mình, đổi mới văn học sau 1986. Tuy nhiên, nâng tầm lên một vấn đề có ý nghĩa lí luận thì lại không phải là dễ dàng. Chưa kể khái niệm về "nữ tính" như đề ra có đòi hỏi phải giới hạn trong văn học Việt Nam hay không? Nữ tính là vấn đề dân tộc hay vấn đề nhân loại? Nghĩa là ngay từ đầu phạm vi của đề ra đã không chuẩn mực. Bởi lẽ với học sinh giỏi chưa từng có giới hạn chỉ học phần Văn học Việt Nam, mà ngay trong các chuyên đề chuyên sâu cũng có học phần văn học nước ngoài. Nếu giới hạn trong phạm vi lí luận lại càng nên lấy các tác phẩm văn học nước ngoài làm chuẩn mực (điều này chắc chắn khỏi phải bàn cãi vì các học giả của chúng ta cho đến các nhà văn vẫn quen truyền thống lấy văn chương nước ngoài Đông Tây Kim Cổ làm chuẩn mực).
Còn ra đề kiểu chấp nhận cho các em nói chung chung, đại khái: thật sự thành công nghĩa là tác phẩm phải đạt đến giá trị Chân - Thiện - Mĩ... Nữ tính là tập hợp Công - Dung - Ngôn - Hạnh; phụ nữ phải là người bà, người mẹ, người vợ, người chị, người em gái, người tình... thì chắc chắn sẽ không tránh khỏi cách nhìn phiến diện. Còn đòi hỏi các em phải nắm vững các khái niệm "nữ tính", "mẫu tính" thì e rằng các em khỏi cần học Đại học làm gì mà học thẳng lên thạc sĩ, tiến sĩ!!! Còn trình độ phổ thông thì đưa ra khái niệm này quả thật giống như đánh đố nhau! Tôi dám đoan chắc ở 63 tỉnh thành, đưa đề này cho các giáo viên dạy chuyên cự phách làm, đố ai dám bảo đảm mình đã trình bày thật sự rõ ràng khái niệm "nữ tính", dám cam đoan chỉ qua "một số tác phẩm" từ VHDG đến VHHĐ mà làm "sáng tỏ nhận định" được! Và tôi cũng vui lòng làm một giám khảo chấm bài của học sinh nào đạt giải Nhất của kì thi lần này mà đạt điểm tối đa còn tồn tại vô số những lỗi kiến thức! Bởi lẽ toàn bộ những tiêu chí của đề đều không đạt đến chuẩn mực cần phải có của một đề mở.
Đề mở này có hai hướng giải quyết: theo hướng lấy hình tượng phụ nữ làm chuẩn thì phải bắt đầu từ khái niệm hình tượng văn học để hình thành tiêu chí cho hình tượng phụ nữ; hướng thứ hai là xem như một đề lí luận văn học, lấy cơ sở là hình tượng phụ nữ để làm rõ khái niệm nữ tính trong văn học. Nhưng dù giải quyết theo hướng nào thì cũng không trọn vẹn bởi lẽ yêu cầu phân tích để làm sáng tỏ không chuẩn! Nếu lấy điểm xuất phát là "Văn học dân gian" thì phải có mệnh đề tiếp theo là "đến Văn học viết" thì mới bảo đảm tính khái quát tổng hợp của đề. Còn yêu cầu như đề này thì dẫn chứng không thể là "một số" (được hiểu ngầm là từ 2 trở lên) mà bắt buộc phải có Văn học dân gian - Văn học hiện đại! Mà như vậy thì sẽ thiếu sức bao quát! Vì mỗi bộ phận văn học, mỗi khuynh hướng, mỗi trào lưu, mỗi giai đoạn văn học lại có những chuẩn mực riêng về nữ tính, không thể đánh giá toàn diện được! Chưa kể là dẫn chứng hoàn toàn có thể lựa chọn cả VHDG nước ngoài, VHHĐ nước ngoài (nàng Sita trong Ramayana hay Phăngtin trong đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền - Những người khốn khổ đều đạt đến phẩm chất của hình tượng văn học thật sự thành công!).
Một đề ra không chuẩn như vậy, sẽ không thể tìm ra những bài văn thực sự hay! Và người ra đề chưa đủ tầm bao quát và hình dung không nổi thực trạng học sinh giỏi Văn sẽ phải khổ sở như thế nào với kiểu đánh đố này!
Trần Hà Nam

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

HẠT BỤI NÀO...

            Không hiểu sao khi đọc xong tập thơ thứ ba của Võ Ngọc Thọ - Hạt Bụi và Hoa Quỳnh – tôi lại chợt nhớ lời hát của Trịnh Công Sơn: hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…, phải chăng vì cả hai hình tượng anh dùng đặt tên cho tập thơ này đều gợi về một cái gì rất nhỏ bé,mong manh, ngắn ngủi trong cảm nhận về sự sống, đời người?
            Từ bài thơ mở đầu đã mang theo ám ảnh về một đường tàu – định mệnh, dù rằng anh nói về một vấn đề lớn lao:
            Có vẻ như con tàu đã vào đúng đường ray độc nhất
            người lái tàu quá thuộc những lời răn

            Có vẻ như ga vắng khách
            mà người tiễn, nhân viên đường sắt thì đông

            Có vẻ như đoàn tàu đang bị lỗ
            nhưng những người ăn theo thì giàu sụ…
                                                (Có vẻ như…)
            Tôi nhận ra những bài thơ gần đây của Võ Ngọc Thọ thường bắt nguồn từ những quan sát cảm nhận hiện thực có phần gai góc và sù sì của đời sống, những suy ngẫm thơ cứ thế bật ra theo lối tự sự để chuyển tải những trăn trở hướng về đất nước, nhân dân. Những bài thơ làm với cảm hứng công dân thường không mấy khi dễ chịu và dễ dãi, vì còn quá nhiều những ưu tư cuộc sống đọng lại. Cũng là những hình tượng thơ trở thành  đối tượng chiêm ngưỡng, ca ngợi của thi ca nhưng Võ Ngọc Thọ lại ngẫm nhiều hơn đến nỗi đau, đến sự hy sinh lặng thầm, những mất mát trong phận người. Chẳng hạn một bài thơ ngắn viết về Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, anh kết bằng hai câu ray rứt:
            Đèn khuya  tuổi mẹ mỏi mòn
            Nén hương khói tạt khóc con đêm dài…
            Có một nhà thơ đã từng tuyên ngôn: “Tôi đứng về phe nước mắt!” giữa không khí thời đại hừng hực những khúc tráng ca. Bây giờ khi thơ đã thấm đẫm cảm hứng nhân văn, quan tâm hơn những vấn đề nhân sinh, ta lại gặp quá nhiều nước mắt! Võ Ngọc Thọ có độ tiết chế hơn trong tình cảm, trừ khi đó là nỗi đau của riêng anh, còn thơ anh đủ độ tỉnh táo để không có những giọt nước mắt cá sấu giả vờ yêu nước thương dân, ăn năn sám hối như một mốt thời thượng của những loại ngụy-thi-sĩ! Có thể đó là những giọt thơ rơi trong chiều mưa hay cảm hứng vào một ngày xuân cờ đỏ mai vàng, một suy ngẫm về lòng yêu nước không là đặc quyền của một tầng lớp, giai cấp phe phái nào cho đến trăn trở về thời gian có ich và mặc cảm vô tích sự, Võ Ngọc Thọ đã có thừa độ tỉnh để rạch ròi trong thái độ:
            Người hiền tài chơi gốc
            Có sẵn một kế sách an dân

            Kẻ gian nịnh chơi gốc
            Nuôi sẵn dã tâm hại dân bán nước…
                                    (Chơi gốc)
            Trong cảm hứng thơ kết hợp suy tư phận người và đất nước, Võ Ngọc Thọ đã có một bài thơ thật đời mà cũng rất giàu triết lý, những triết lý chắt lọc từ trải nghiệm nhân tình thế thái : Người đàn ông mài dao dạo. Tôi nghĩ đó cũng là cách anh hình dung về chính mình, về cái tạng thơ của mình:
            Không mài dũa
            đá vẫn cứ là đá
            dao cũ mòn bỏ đi

            Người đàn ông cắm cúi mài dao
như mài trên chính thân phận mình…
Trong Hạt Bụi và Hoa Quỳnh, Võ Ngọc Thọ dành nhiều đất cho tình yêu, đề tài muôn thuở! Tuy nhiên đó không phải là thứ tình yêu nồng nàn đắm đuối của tuổi hai mươi mà là tình yêu muộn mằn của một người nhiều trải nghiệm. Đó là tình yêu rất nồng nàn bền bỉ thách thức với thời gian, ấp ủ tự trong lòng, chạy đua với tuổi tác. Lớn hơn tình cảm nam nữ thông thường, đó là thái độ tôn vinh cái đẹp, trân trọng chút hương thầm đọng lại với đời:
Hoa rồi cũng úa tàn
sẽ thay bằng những bông hoa khác

Xuân về
tôi lại đem chiếc bình cũ ra dùng
nhớ những người đi qua…
còn gửi lại chút hương
                        (Chiếc bình hoa)
Có thể dễ dàng nhận ra sự trở lại của hình tượng hoa, một ám ảnh thường trực trong thơ Võ Ngọc Thọ từ những tập thơ trước: hoa mai vàng, hoa bằng lăng, hoa hồng, hoa hướng dương,những làn hương hoa, những dáng hoa … và anh làm người tỉ mẩn nhặt hoa và trò chuyện cùng hoa. Nên cái say trong tình yêu của Võ Ngọc Thọ là cái say của một người tình thầm lặng, chiêm ngưỡng mà không muốn chiếm đoạt sở hữu, nhiều hoài niệm nhiều bâng khuâng:
Tôi ngồi trong lặng lẽ
Bên bóng hoa mơ màng
Hương tình em sâu lắng
Chiều chợt buồn mênh mang…
                        (Hương…)
Anh gửi vào trong hoa một triết lý của người đã chạm vào ngưỡng lục thập hoa giáp của một đời . Thời gian càng hối hả, con người càng cần sống chậm để chiêm nghiệm giá trị đời người, như một tâm sự anh gửi gắm trong Thơ viết một ngày không vội vã:
Ngày không vội vã
ấy là ngày ngồi nghe biển tâm tình
nhìn sóng dào dạt vỗ bờ
rồi tan mau trong ly cà phê giọt chậm…
Trong nhịp thời gian chậm rãi ấy, anh đã chiêm nghiệm được rất nhiều vẻ đẹp và cả những mặt gai góc của đời, đã sống rất nhiều vai khác nhau: người công dân, người tình, người cha, người ông… Tôi không muốn nói nhiều thêm những bài thơ anh viết cho gia đình, cho Mẹ, cho Cha, cho con gái, cho cháu ngoại, vì đó là khi anh viết cho riêng mình bằng tất cả máu thịt và niềm kính ngưỡng, nỗi đau mất mát. Không cần bình và không thể bình những bài thơ ấy mà chỉ biết lặng lẽ cảm cùng anh.
Khép lại những cảm nhận vội vàng này, tôi xin được cùng anh đọc bài thơ, như một phản biện cho cảm nhận ban đầu của tôi:
Chẳng có hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
chỉ có thơ
và tình em
giúp tôi đứng dậy

Những đêm buồn
bạn cùng vầng trăng và hạt bụi
ơi, vô thường
nở đóa quỳnh thơm!
                        (Hạt Bụi và Hoa Quỳnh)
Vâng, đó là bức thông điệp nhẹ nhàng lắng đọng mà Võ Ngọc Thọ muốn gửi gắm cho chúng ta trong tập thơ này.
                                                                                    TRẦN HÀ NAM

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

Trịnh Hoài Linh - Ruộng và Làng

(Đọc Hương của Đất - tập thơ của Trịnh Hoài Linh, NXB Thời Đại, 2010)
Mẹ...
Ruộng...
Làng...
Trịnh Hoài Linh đã đem vào trong thơ tất cả cái chân chất của một nông dân thứ thiệt. Khi tập thơ của anh thấm đẫm một niềm thơm thảo chất bùn đất quê làng! Thú thật, dạo này tôi dị ứng khi nghe những danh xưng những mĩ từ mượn màu quê kiểng nhưng thực ra đó chỉ là thứ trang sức lòe người đánh bóng tên tuổi để tiện bề loi ngoi trong bả phù hoa danh lợi. Nên đọc thơ Trịnh Hoài Linh ít nhiều cũng có chút cảm giác e dè ấy. Mà cũng lạ, khi người ta nếm đủ mùi vinh hoa thì lại cứ thích về nép trong bóng quê làm dáng, như cái kiểu các ông vào hàng đặc sản gọi món rau muống xào tỏi để tỏ ra mình chưa quên gốc quê mùa. Thật may, thơ của Trịnh Hoài Linh là của một dân làm ruộng thứ thiệt, tay chân chai sần, nứt nẻ vì cắt lúa lội ruộng. Nên trước hết tôi tin anh nói thật, cái khó tìm ra trong thời buổi thiên hạ thích nói láo thích lòe đời. Mà cũng thật may khi lại không phải là cái thật thà như đếm có sao nói vậy để làm cho thơ trở thành dung tục sống sượng - cũng là một cách mà một số người ngộ nhận đó là dòng thơ dân gian, thực chất là tục tĩu hóa thơ.
Thơ Trịnh Hoài Linh có mỹ cảm, có thi pháp hẳn hoi. Thậm chí nếu như đưa vào một công trình luận văn kiểu tìm tính dân tộc trong thi pháp thơ đồng quê, e có khi liệt kê ra hàng đống không gian nghệ thuật làng quê, thời gian nghệ thuật hồi tưởng, tâm thức nông dân... trong gần 40 bài thơ của anh. Và nếu tán giỏi thì Trịnh Hoài Linh khéo trở thành một hiện tượng, một phát hiện của nền thơ trên đường về nguồn quê hương! Xin anh lượng thứ cho những lời của một kẻ cày-đường vốn không rành lắm về nông dân, nông thôn vì đã không hít thở hương đồng có dễ hơn ba chục năm như tôi. Nếu anh là kẻ háo danh thèm tiếng thì cứ coi như đây là sự giễu cợt ba trợn của một kẻ chẳng hiểu gì mà múa ba tấc lưỡi. Nhưng tôi nghĩ mình dám bạo miệng mà nói những điều ấy, bởi Trịnh Hoài Linh là người làm thơ có chất ở đất Bình Định này, và nếu anh có chút ngông, chút dấn thân thì biết đâu sau cái Đại hội nhà văn trẻ năm nào lâu lắc, giờ đây anh đã có hàng chục tập thơ và tiếng tăm như cồn trên văn đàn, nếu sang trọng nữa thì kiếm chút quan chức văn nghệ tỉnh nhà! Chứ có đâu về lại với luống cày, với đồng quê - với Làng, Ruộng và Mẹ - tảo tần hôm sớm cuộc đời để nguyện làm một "lão nông tri điền" thứ thiệt. Anh dại chăng? Hay anh "khôn nẻ vỏ"? Dại - khôn cũng nằm ở miệng người đời thôi. Còn tôi tin Trịnh Hoài Linh chưa hề toan tính điều này, cứ hồn nhiên làm thơ, hồn nhiên chơi với bạn bè văn nghệ đến mức bị lợi dụng thì cũng chỉ lắp bắp không tin nổi sao mình là thằng cày ruộng mà nỡ lòng cũng bị lôi vào cuộc thị phi! Có hề chi, anh vẫn cứ "dzìa dzí Hậu" theo cách nói đặc sệt chất An Nhơn của mình.
Không tin sao được, khi gặp những vần thơ hồn hậu về cánh chim, như thấp thoáng chất đồng dao - nhưng không phải đuổi chim mà lại là gọi chim về:
Đậu xuống sân nhà ta
Hỡi cánh chim tha hương
Lúa của ta đã vàng
Sông ta đầy nước ngọt
Chim tha hồ mà ăn
Chim thỏa thuê mà tắm...
(Cánh Chim)
"Đất lành chim đậu!", Trịnh Hoài Linh đã mở đầu cho tập thơ của mình bằng những lời gọi chim, gọi thơ tung cánh trên cánh đồng làng hào phóng, trên mảnh đất mà anh dày công chăm xới, để thả sức thăng hoa hồn thơ khi mùa vàng đã tới. Ý tưởng thật ngộ nghĩnh nhưng cũng thật giản dị mộc mạc. Còn gì tha thiết và đáng quý bằng chính người nông dân nói về công việc của mình bằng thơ, để có cảm giác thư thái sau giờ phút đổ giọt mồ hôi thánh thót trên luống cày. Nên cũng dễ hiểu tại sao anh nói về quê hương bắt đầu bằng tình cảm tri ân sâu nặng, bắt đầu từ Người Mẹ:
Mẹ bỏ quên
Giọt mồ hôi trên đồng
Con cua cái ốc cho tôi cái chữ
Dảnh mạ quắt queo cho tôi rau cháo đỡ lòng.
(...)
Mẹ bỏ quên
Bỏ quên
Những điều tôi lại nhớ
Khói hương này xin dâng tạ mẹ tôi
(Mẹ bỏ quên)
Tôi thích những câu thơ không phải cố gắng lên giọng mà vẫn rõ mồn một là thơ của Trịnh Hoài Linh. Không cần phải giả vờ thành thật, không cần phải lên gân sám hối. Bóng bà, bóng mẹ, bóng chị... những người phụ nữ tảo tần cứ hiện lên những trang đời đắng đót trong thơ anh, chân thành như lời tâm tình gan ruột, được viết bằng sự hàm ân sâu xa:
Người đàn bà nhặt những hạt thóc
lẫn trong cỏ dại
như nhặt nỗi buồn của đất
chấp chới tuổi thơ tôi trang giấy ngày tựu trường
chữ o ngoằn ngoèo cũng từ quả cà
hạt thóc quả bưởi quả cau
lấp lánh giọt mồ hôi người mẹ...
(Người đàn bà nhặt thóc)
Triết lí về cuộc sống của Trịnh Hoài Linh cũng từ những mảnh đời gần gũi, từ làng từ ruộng mà thành hình. Cuộc sống hằn lên bao vết chân chim trên gương mặt, cũng hằn lên bao suy tư trăn trở về một làng quê luôn ám ảnh phận nghèo. Có lẽ nhiều người làm thơ về làng quê cũng có chung tâm trạng này, và đó cũng là thực trạng buồn khi làng quê Việt Nam qua bao đời rồi vẫn cứ đìu hiu nghèo khó buồn bã trong thơ. Nông dân thuần chất thì nghêu ngao đánh lừa cảm giác bằng cái kiểu "Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu thú lắm chứ..."; còn có chút chữ nghĩa có chút sĩ diện như Trịnh Hoài Linh lại thưởng thức cuộc sống theo hơi hướng người xưa - của những bậc hiền giả lánh đời. Có lúc học đòi Chống gậy trúc dạo chơi núi Bà, có lúc lại ngẫm ngợi Hương của đất:
Trở về đường đất ta thôi
Khói đồng mênh mang sương khói
Cơm hẩm dưa cà
Vỗ bụng hát
Thân phận con người hề
Bèo bọt phù vân...
Cái lối ca ngợi cuộc sống Hàn cư như thế, thực tình tôi không thích lắm, vì nó cũ. Và yếm thế! Giọng điệu ấy dễ lẫn lộn và cũng dễ bị những kẻ láu cá lợi dụng khen lao, ngâm nga để dễ dẫn dắt đến ngộ nhận ở con người vốn thiệt thà không nhiều tham vọng như Trịnh Hoài Linh.
Trong tập thơ có những bài anh thoát ra khỏi không gian làng, khi anh viết trong vai trò của một hội viên văn nghệ đi dự các trại sáng tác. Chẳng hạn những bài viết về Đà Lạt, hồ Xuân Hương, Vũng Tàu...nhưng đi đâu cũng về lại với làng quê, với những lo toan mưa nắng lam lũ của người miền Trung giữa vùng đất lạ:
Đêm Vũng Tàu tôi thức cùng những người đồng hương
(...)
Họ tựa vào nhau
trở về những căn phòng thuê chật chội
ẩm ướt khi gà vừa cất tiếng gáy
cuộc mưu sinh ngày mai còn lắm vất vả
Dải đất miền Trung như gương mặt nông dân
Người miền Trung cõng cái nghèo lưu lạc.
            (Thức cùng đồng hương)
Có lẽ vì thế cho nên với Trịnh Hoài Linh, làng vẫn là nơi tìm thấy chút yên bình để có thể "bắt đầu từ gốc rạ/tôi nhận ra tôi", để Cuối năm uống rượu với bạn làm ruộng. Và trên hết, làng là nơi đón nhận những chân tình, là nơi bao người thân yêu cùng gắn bó sinh tử, là nơi kí thác nguyện ước tâm linh. Xin khép lại bài viết bằng bài thơ Về làng - theo tôi như mang trọn nỗi niềm của Trịnh Hoài Linh:
Về làng
Cúi lạy bờ tre
Rêu phong giếng lạn
Chợ quê trưa người

Về làng hầu chuyện rau khoai
Tóc quê lũ rối
Bời bời bão giông

Về làng
Vịn gốc nghĩa nhân
Mai sau con cháu
Vẫn còn chốn quê

Về làng cạn cốc rượu khê
Tỉnh say say tỉnh
Bên lề văn chương

Về làng còn có người dưng
Cho ta nắm đất
Nén hương bìa làng.
Tôi cũng nghĩ, chỉ có Làng mới thật sự đem lại cho Trịnh Hoài Linh một hồn thơ phong phú, để thơ anh có thể gặp gỡ với những hồn tri âm đồng điệu, ươm mầm cho những bài thơ mới của anh kết thành mùa thơ trĩu hạt.
                                                            Quy Nhơn, tháng 11 năm 2010
                                                                        Trần Hà Nam

Nhà thơ Trịnh Hoài Linh

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

Chuyện xưa chuyện nay...

Trong chương trình Ngữ Văn lớp 10 hiện nay đưa vào học thể loại Bình Sử, có nhiều gợi mở trong cách thức tiếp cận! Trước kia, có tủ sách "Những vì sao đất nước" của NXB Kim Đồng, những truyện như thế có thể đến được với trẻ em từ rất sớm. Cho đến tận bây giờ, mấy chục năm trôi qua, những chuyện kể về các danh nhân đất Việt vẫn còn in đậm trong tâm trí.
Bẵng đi khá lâu, chẳng biết từ khi nào những dạng bài học từ lịch sử kiểu như vậy không còn xuất hiện trong sách giáo khoa cũng như trên thị trường xuất bản truyện thiếu nhi là sự xâm lăng của truyện tranh với không ít những truyện vô bổ, hoang đường. Đến bây giờ, kiểu bài bình sử mới đưa vào trong sách giáo khoa lớp 10 quả là muộn màng! Học trò tiếp cận bài học, ngơ ngơ ngác ngác, ngáp ngắn ngáp dài vì các em mù mờ về lịch sử, không có nền tảng từ tuổi thiếu nhi.
Nhưng thà muộn còn hơn không! Chương trình Ngữ Văn có quá ít những bài để khơi dậy cảm hứng tự hào về danh nhân đất nước! Một thời sa vào chủ nghĩa kinh viện, học tác giả tác phẩm theo kiểu hàn lâm. Một thời lại quá sa vào chủ nghĩa đề tài... mà rất ít những tác phẩm hình thành nền tảng đạo lý cho học sinh trên tinh thần ôn cố tri tân.
Chẳng hiểu sao, mình lại hứng thú đặc biệt với kiểu bài bình sử! Có lẽ nó gợi nhớ một thời thiếu nhi mê mẩn với "Trên sông truyền hịch", "Trăng nước Chương Dương", "Những vì sao đất nước", "Chọn soái", "Lá cờ thêu sáu chữ vàng"... Lịch sử đã thấm vào mình bằng những câu chuyện rút ra từ sách sử, từ những mẩu chuyện sinh động, chứ không phải là những bài lịch sử với kết cấu nhàm chán: sự kiện - diễn biến - kết quả - nguyên nhân - ta thắng địch thua, diệt bao nhiêu tênm thu bao nhiêu súng...
Như trong hai bài học ở sách Ngữ Văn 10 nâng cao: Thái phó Tô Hiến Thành Thái sư Trần Thủ Độ. Với mình, nó không mới, nhưng giờ tiếp cận từ góc độ một giáo viên, vẫn ngẫm ra nhiều điều thú vị. Dù cho hình thức của các tác phẩm Bình Sử có phần hơi xa lạ với tư duy thời nay, nhưng ít nhiều cũng giúp cho hiểu cách người xưa đánh giá về các nhân vật lịch sử. Không phải chỉ là chức danh, hành trạng mà cách nhìn, đánh giá chủ yếu theo những chuẩn mực về tài năng, đức độ, dưới góc nhìn chân thực của sử quan. Chẳng hạn quanh các xung đột giữa Tô Hiến Thành và Thái hậu quanh việc thực hiện di chiếu của tiên vương, để hiểu về ý thức trung quân của kẻ sĩ gắn kết phẩm chất "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất"; chuyện chọn người của Tô Hiến Thành không giống kiểu cất nhắc cán bộ ở một số nơi bây giờ chủ yếu vì cánh hẩu, vì ê kíp mà không thèm quan tâm đến ích nước lợi dân! Chuyện quan xưa đáng cho quan nay học tập! Hay như thái sư Trần Thủ Độ, được sử ghi lại không hề tô vẽ là người ít học nhưng lại có tài thao lược, một tay dựng nghiệp nhà Trần, đầy bản lĩnh đối mặt sự thật, thưởng phạt nghiêm minh, khiến trên dưới đều nể phục! Những bài học như thế, chỉ cần các em ghi nhớ, sẽ phần nào giúp các em hiểu về cha ông, học cách xử thế người xưa mà sống đàng hoàng có nhân cách. Mai mốt có làm quan thì cũng có chút ít định hướng thế nào là quan trí đích thực!
Còn nhiều vấn đề, nhưng muốn bàn sâu bàn kĩ, cần phải hình thành một chuyên luận, không phải là mục đích của entry trên blog này!