Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

TẾT

 

Sáng nay cho một đề luyện tập mở cho lớp Văn, vỏn vẹn một chữ: Tết!
Mới thấy ý niệm về Tết thật là ít ỏi đối với học trò. Chợt nhớ những bài học trong Quốc văn giáo khoa thư thời của cha, dạy cho học trò từng ly từng tí về lễ nghĩa đạo đức cần phải có. Những bài học cho tuổi thơ thật trong trẻo và gần gũi với đời sống.
Có vẻ như giáo dục hiện nay ở môn Văn không chú trọng bồi đắp nền tảng văn hóa cho học trò một cách nhẹ nhàng mưa dầm thấm lâu mà thiên về áp đặt khuôn mẫu...

Tết là gì?
Tôi nhớ ngày tôi còn nhỏ, háo hức mỗi khi Tết đến, khoảng 27 - 28 tháng Chạp là "canh me" chỉ để được nhảy qua xóm bên ngồi túm tụm cùng mấy đứa bạn xóm "trường Đảng" ngồi coi nồi bánh chưng. Hồi mẹ còn ở ngoài Bắc chưa về, cha về quê bỏ lại một mình trông nhà, vắng vẻ thấy mà phát sợ. 
Ngày Tết, cũng thích đi qua nhà cô sát bên cạnh để dện bánh in, hồi ông nội còn sống thương thằng cháu, mà thằng cháu thì nghịch ngầm và hoang lung. Để bây giờ tiếc vì được học ông nội quá ít: vừa nhận mặt được mấy quẻ bát quái - kiền tam liên, khảm trung mã, cấn phúc quyển, chấn ngưỡng bồn, tốn hạ đoạn, ly trung hư, đoài thượng khuyết. Thêm vào đó là hai câu đối treo ở phòng ông: Lan quế đằng phương xuân vị ngại - Đấu thăng đãi dưỡng nhật do trường. Là hết! Ngày Tết, ông nội cũng lì xì cho thằng cháu ít đồng lẻ, sung sướng lắm! Hồi đó, còn nhớ cô Dư lì xì nhiều nhất, mà có lẽ hồi nhỏ mình hay qua chơi bên nhà cô, vì bếp ăn tập thể công đoàn tỉnh hồi đó gần nhà cô... Tết thích nhất là lì xì, mà chẳng biết tiêu gì, ra hội chợ chơi lô tô, chơi trò chơi hết sạch! Năm nào cũng mang về ít bộ ly, có lần trúng lô tô được cái lốp xe (đáng lẽ được khung xe nhưng do chơi lần đầu, lúc người ta hô "kinh!", mình mới hỏi người bên cạnh, lật đật hô "kinh!" - thế là giải chia đôi! Thắng chả bù thua, tại hồi đó ham chơi bầu cua tôm cá mãi đến hết cấp 2 thì mới thề không thèm chơi nữa, mới biết để dành tiền! Mà hết tiền đâm ra láu cá, lại nhớ coi có bác, có thím nào chưa thăm, tới nhà chơi, chúc Tết rôm rà, để ... nhận tiền lì xì ra ngồi sòng tiếp!!! Thành thử lại được khen là...ngoan, lễ phép, biết thăm và chúc Tết bà con, dù không có cha mẹ đi kèm! Thế là sau này lớn lên, năm nào cũng được nhắc đi thăm người này người kia! Hì, cũng là để chuộc tội láu cá hồi nhỏ.
Tết, hồi nhỏ được kèm cặp đánh đồ đồng bằng chanh và tro bếp rây mịn, năm nào cũng đánh, thành chuyên gia! Trước 23 thường về quê đi chạp mả. Riết rồi quen, năm nào không đi cảm thấy thiếu thiếu! Hai anh em được ông nội dạy cúng, nhưng có lẽ do mình vào trước 3 năm, ở gần ông nội nên cúng quen hơn, còn ông anh thì lạy như bửa củi! (Hì, bây giờ bác làm trưởng nam nên thành chuyên gia đại diện gia đình đi cúng giỗ, cũng là để bù!!!). Mình học cúng bài bản, được ông nội khen, thích lắm! Ba bái bốn lạy, đúng kiểu nhất bộ nhất bái! Mà lòng tay cúng ông bà thì úp xuống, không ngửa ra như lễ Phật! Ngày Tết thì 30 cúng rước, mồng 3 cúng đưa, có đi chơi đi thăm ai cũng phải nhớ mà về làm đủ lễ nghĩa! Bày mâm cúng thì khỏi nói, ông nội coi bày không đúng phép tắc thì chỉnh từng li từng tí! Dịp Tết năm ngoái, lên lễ đền Tây Sơn, mình mới được biết thêm: lạy vua 5 lạy. Trước đó chỉ biết lạy Phật 3 lạy, lạy ông bà 4 lạy, lạy linh sàng 2 lạy!!!
Tết khi mẹ vào Nam từ năm 1979 thì còn sướng là được ăn thịt kho Tàu ăm ắp, thịt nấu măng khô, bánh chưng mẹ gói. Ngon ơi là ngon! Mẹ nấu món Tết ngon lắm, đi chơi đâu về lăn vào kiếm cái bánh chưng, hay cuốn bánh tráng đổ chả kèm rau sống là sung sướng cuộc đời! Sau mẹ truyền nghề cho con dâu, ăn mấy món khoái khẩu ngày Tết, lại rưng rưng nhớ mẹ...
Hồi còn ở với mẹ, năm nào giao thừa cũng thức đốt pháo cho đến khi Nhà nước cấm pháo, chả bù hồi trước, có lần giao thừa mình lang thang ngoài đường lượm pháo, về tha thẩn ngồi trước nhà, lôi từng viên pháo mót ra đốt mà ứa nước mắt! Sau này kể lại cho mẹ nghe, mẹ cũng khóc ứa nước mắt. Biết làm sao, cha năm nào cũng phải về quê, không có mẹ, có anh,, thui thủi chả khác mồ côi, sao mà không chạnh lòng! Có mẹ, có anh, khi cha về quê thì mấy mẹ con quây quần bên ấm trà, quả bánh, lúc lớn hơn lại có hẳn ly rượu mừng, mẹ con chúc nhau sau giao thừa thật vui! Đến khi có vợ ra ở riêng, sau giao thừa lại có niềm vui gọi điện chúc Tết cha,  mẹ và bà con phía ngoại (vì quê nội thường ít ai thức đến giờ đó đón giao thừa, buồn hiu!). 
Mồng 1 thường mấy anh em về quê sớm, đi thăm Từ đường lớn, từ đường các phái, uống chén rượu xuân, hỏi thăm chúc Tết bà con. Lớn lên, có gia đình vẫn giữ được lệ này. Mấy cu con nhà mình nhìn chung chưa được giáo dục đầy đủ và nghiêm ngặt như ba nó, nên bây giờ lớn rồi mà vẫn cứ lộc ngộc, lơ ngơ chả biết ai với ai. 
Lễ nghĩa ngày Tết nhiều khi phiền toái, nhưng ngẫm kĩ lại hay, vì nối kết được tình gia đình, tộc họ, quê hương. Tết thời nay nhạt đi nhiều phần lễ mà chú trọng nhiều phần hội, chơi là chính ăn là phụ, tình tộc họ cũng nhạt đi nhiều, trẻ con ít thích về quê hay có về phần nhiều cũng lơ ngơ!
Cho một đề Văn, mà tự dưng có bao điều để nhớ lại, cũng hay! Thấm thoắt mà đón Tết ở quê nội Bình Định đã 35 năm rồi! Bây giờ, đâm ra hoài cổ như một ông già... Học trò nghe dăm chuyện Tết mình kể, cứ như là nghe chuyện ngày xửa ngày xưa!
 Ừ, ngày xửa ngày xưa, Tết là…
27 tháng Chạp Tân Mão
Trần Hà Nam

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Tản mạn về phong cách nhà văn - Hàn Mặc Tử


Phong cách nhà văn, được hiểu theo một công thức quen thuộc: phong cách xét từ hai mặt nội dung và hình thức. Nội dung bao hàm ba phương diện: cách nhìn - cách cảm - cách đánh giá. Hình thức xét ở hai mặt: cách lựa chọn và cách thể hiện. Nhà văn có phong cách tức là các mặt biểu hiện trên phải độc đáo, sáng tạo, mang dấu ấn cá tính riêng biệt. Cơ sở hình thành nên một phong cách nhà văn là yếu tố dân tộc - lịch sử - thời đại ; đồng thời còn là những nét riêng trong đời tư, các nhân tố gia đình, dòng tộc, quê hương... Tất cả những điều này chi phối, định hướng việc tìm hiểu phong cách tác giả trong văn học nhà trường, thành nếp tư duy quen thuộc và ít nhiều làm mất cảm hứng sáng tạo trong cảm nhận nét hấp dẫn, sức sống tác phẩm toát lên từ phong cách nhà văn. Trên trang riêng này, thử một lần thoát khỏi tư duy nhà giáo để làm một người cảm thụ thuần túy xem sao!



Trong số các nhà văn nhà thơ, có lẽ ấn tượng nhất với tôi là Hàn Mặc Tử. Từ những ngày xưa khi còn là học trò, đã ám ảnh bởi những câu thơ Hàn:
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

(Đây thôn Vĩ Dạ)
Để rồi đến khi thành sinh viên, năm 1987, niềm vui lớn lao chính là khi mua được quyển "Thơ Hàn Mặc Tử". Đến lúc đó, mới thật sự làm một hành trình đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử trong thơ. Nhưng điều khiến tôi nhớ về Hàn, hình dung về Hàn có phần nào ảnh hưởng từ Chế Lan Viên, trong bài tựa "Hàn Mặc Tử, anh là ai": "Bây giờ thì Hàn Mặc Tử nằm đây, trên điểm cao Gành Ráng này, đối diện với bể Đông. Bể chói lòa như thơ Anh và giông bão tựa đời Anh". Chế quả thật là một trong những tri âm của Hàn, khi hai con người cùng "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" từ thuở cùng là chủ soái của "trường thơ Loạn", cùng tự nhận mình là điên, là say, là người mơ, người thơ... Kể cả khi thơ lãng mạn trong nhà trường bị xem là "bạc nhược, suy đồi" thì Chế vẫn mượn lời Hàn đề từ cho bài thơ của mình: "Người Thơ phong vận như Thơ ấy". Mới thấy, lời quả quyết của hơn 40 năm trước của Chế cùng lời tựa năm 1987 nhất quán một cách đánh giá: "Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, còn lại chút gì trên đời này đáng kể, đó chính là Hàn Mặc Tử". Dẫu cho trong thời điểm 1987, bài viết của Chế Lan Viên còn nhiều phen phải đóng vai trò thầy cãi để chứng minh sự trở lại xứng đáng trên văn đàn Việt Nam của Hàn. Cũng phải thôi, vì văn học Việt Nam đến thời điểm đó mới bừng tỉnh và đang dè dặt những bước chân trên hành trình đổi mới. Việc quy chụp quan điểm, khắt khe với dòng văn học trước cách mạng vẫn còn nặng nề. Bài viết mang tính "định hướng" cách tiếp cận Hàn Mặc Tử phần nào chi phối cảm xúc, nhưng khi đọc hết tập thơ, người viết bài này đã hoàn toàn bị hút vào không gian thơ Hàn Mặc Tử, không phải bằng cảm giác của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam khi lạc bước vào một vườn thơ "rộng rinh và ớn lạnh" mà bằng tất cả sự trong trẻo của một tâm hồn mê đắm văn chương một cách trong trẻo và thánh thiện của một sinh viên khoa Văn.
Có thể bây giờ, khi đã qua tuổi 40, lòng không còn trinh bạch như buổi đầu lưu luyến ấy, nhưng Hàn vẫn có một sức hút, nỗi ám ảnh dị thường.
Một Hàn Mặc Tử đã sống trong thơ "bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn", sống một cách "mãnh liệt và đầy đủ", sống bằng cách "phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu", "đã vui buồn, giận hờn đến gần đứt cả Sự Sống". Phát biểu của chính Hàn Mặc Tử là quan niệm thơ thành thực bậc nhất, chính xác đến từng câu chữ, hình ảnh, giọng điệu trong sáng tác của Hàn. Người Thơ ấy chỉ sống trên dương thế 28 năm, nhưng sức sống từ thơ Hàn đã vượt qua mọi giới hạn thời gian. Thiết nghĩ Hàn mới chính là người đã đẩy Thơ Mới đi đến tận cùng hành trình hiện đại hóa, một cách hết sức tự nhiên bằng bản năng thi nhân của Hàn.
Chu Văn Sơn có lí khi gọi thi pháp của Hàn là "Thi học của cái tột cùng". Nhưng tôi hoàn toàn không thích cái cách tiếp cận Hàn bằng lối hàn lâm kinh viện của anh, ngồn ngộn kiến thức, uyên bác thật đấy, nhưng đọc xong rồi cảm thấy ngờ ngợ vì dường như đó không phải là Hàn của mình, Hàn như mình hình dung và yêu mến! Dù cho luận thuyết của anh về Hàn cũng có những lúc gật gù tâm đắc "Thế là đau thương! Thế mới đau thương!" khi khảo sát về tập Đau thương - tức Thơ Điên của Hàn, nhiều người gật gù theo nhưng riêng tôi không cảm được! Cũng đành, biết sao!
Hàn Mặc Tử, với tôi, là người đem đến cho thơ cái rụt rè buổi đầu trinh bạch trong tình yêu, với những cảm giác sống động cựa quậy trong từng câu chữ:
"Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá
Dám ôm hồn Cúc ở trong sương"

Trạng thái "tình trong như đã mặt ngoài còn e" từ thời Nguyễn Du phải đến Hàn mới thật sự đốt thiêu tâm hồn bằng ngọn lửa tình ngùn ngụt nhưng lại che đậy bằng dáng vẻ bên ngoài "bẽn lẽn" ngượng ngập của người "gái quê" chân chất:
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ đến cái tiết trinh em

Chân dung Gái quê cũng là chân dung của Hàn trong khoảnh khắc đầu tiên đặt chân trên con đường cách tân để làm một hành trình thơ mới thoát thai khỏi cách nhìn cũ, cảm nhận cũ. Hồn xưa Lý Bạch vẫn còn đó trong làn gió Đường thi của bài Xuân Tứ, nhưng lại rất phương Tây trong nụ hôn làm hồng đôi má giai nhân! Lại thêm cái tươi mát của ca dao dân Việt gợi cảm với lối xưng "em" rất nữ tính, gợi về vẻ đẹp "Thân em như chẽn lúa đòng đòng - Phất phơ dưới ngọn nắng hồng sớm mai". Nghĩa là Hàn không đi tìm cái mới trong việc miệt mài tìm tứ lạ, "khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen" như Xuân Diệu mà chủ động tìm một lối của riêng mình. Hàn đã thật ngạo nghễ khi phê phán Baudelaire bùng nhùng giữa dục tính và tình cảm, trong lá thư gửi người bạn thơ Hoàng Trọng Miên để tuyên ngôn quan niệm thơ của mình.
Chọn con đường này, Hàn đã phát huy sức sáng tạo bùng nổ của mình trong những bài thơ tuyệt tác của tập Đau thương. Có lẽ trong cuộc so tài để chứng tỏ cái ngạo khí thi sĩ phương Đông với tác giả Hoa Ác - nhà thơ Baudelaire, Hàn đã phải đối diện với tư cách con chiên của Chúa, vượt qua lời nguyền thành "thi sĩ của đội quân Thánh giá", nên đã có lúc Hàn nguyện với lòng sẽ đốt tập Thơ Điên để giữ trọn "Sự trong sạch của tâm hồn" trước khi về nước Chúa chăng? May thay, những người bạn đã làm trái di nguyện của Hàn, để cho bao thế hệ sững sờ với những câu thơ có sức quyến rũ ma mị, đôi khi chỉ cảm mà không cần thiết hiểu. Vả chăng, Hàn cũng đã sám hối trong thơ rồi còn gì, bằng tất cả sự tôn sùng dành cho Đức Mẹ Đồng Trinh và Thiên Chúa:
Xin thứ tha những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng

Có thể qua từng chặng Đau thương : Hương thơm - Mật đắng - Máu cuồng và Hồn điên ta chứng kiến một tâm hồn nhỏ máu vì bị tách ra khỏi cuộc đời yêu thương bởi căn bệnh quái ác, bị cách ly bởi những thành kiến nghiệt ngã của người đời. Nhưng hạnh phúc biết bao khi Hàn nhận phần đau thương bỏng rát về mình, để đem cho Đời "những dòng thơ rất mát".
Hỡi những ai đọc Hàn, hãy đừng quá chú tâm vào tài năng thơ có thể làm nên những bài đọc xuôi, đọc ngược theo 6 cách như "Cửa sổ đêm khuya" mà hãy lắng nghe tiếng lòng của Hàn đau đáu vọng vang trong từng câu chữ:
Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Chẳng có niềm trăng và ý nhạc
Có nàng cung nữ nhớ thương vua

Khúc cung oán sầu hận ấy là lòng đau của chính Hàn, nhập vào nỗi niềm cung nữ. Đâu phải là nỗi cô đơn thi sĩ làm dáng mà là nỗi đau thực sự của một Con Người. Con Người ấy đã từng yêu biết bao nhiêu Mùa Xuân Chín:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi!

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây

(...)
Có mùa xuân nào tình tứ và ý nhị thế chăng? Hình ảnh mùa xuân tươi tắn non tơ như tâm hồn thi sĩ dạt dào bao cảm xúc lãng mạn. Có nét tương đồng giữa Hàn Mặc Tử và Lưu Trọng Lư trong cách cảm nhận Hương thơm của tình yêu với vẻ rụt rè như chàng trai mơ mộng hóa thân thành "khách xa", chiêm ngưỡng bức tranh non tơ của thiên nhiên, lắng nghe âm thanh trong vắt của "bao cô thôn nữ". Cứ xa xa mà ngắm, vậy mà đã rạo rực xuân tình trong cảm giác rất mãnh liệt vang lên thành tiếng, hiện ra thành hình: sột soạt, vắt vẻo, hổn hển, thầm thĩ... để cho lòng chàng dậy lên một nỗi "bâng khuâng" giấu mình trong hoài niệm.
Thế giới của Hàn sáng láng nguồn cảm xúc, linh động những cảm xúc trong một không gian luôn cựa quậy câu chữ hình ảnh, ngay cả trong những lúc tưởng như tĩnh lặng, lắng đọng nhất. Ảo và Thực như trộn hòa, không cần phải cố gắng dụng công trong ngữ âm, trong điệp từ. Với Hàn, làm thơ là để cho cảm xúc cứ thế bật lên thành lời, thành nhạc:
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng...
Hàn Mặc Tử gọi Trăng như chú mục đồng gọi nghé, để trăng hiện lên thật lung linh, huyền hồ, ma mị, bỡn cợt, trêu ngươi, rã rượi trong tuyệt vọng nhưng cũng khắc khoải bao khát vọng. Hàn có cả một Bến sông Trăng để thỏa thuê lặn ngụp, biến hóa, trửng giỡn, đê mê.
- Ha ha! Ta đuổi theo trăng, ta đuổi theo trăng
Trăng bay lả tả ngả trên cành vàng...
- Áo ta rách rưới trời không vá
Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng...
- Một miệng ta trăng là trăng
Lòng ta là vô số gái hồng nhan...
- Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu r
a
- Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Chẳng có một nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm

Chợt nhớ một kỉ niệm cùng Nguyễn Mạnh Quân - người bạn thân hồi còn là sinh viên điêu khắc, là người Quy Nhơn nên chọn đề tài là tượng Hàn Mặc Tử. Cả hai đã cùng lang thang trong Quy Hòa, đã nghiền ngẫm lại tập thơ của Hàn cả hàng mấy tháng trời, đã băn khoăn đi tìm một biểu tượng về Hàn: hoa cúc hay là trăng? Để rồi, bức tượng gỗ mít tạc chân dung Hàn Mặc Tử của Quân đã được chấm điểm cao tuyệt đối và được giữ lại trưng bày ở khoa Điêu khắc trường Mỹ Thuật Huế. Bức tượng bán thân được tạc cách điệu, với khuôn ngực Hàn là một khối âm mang hình vầng trăng khuyết. Vầng trăng đã được anh bạn chọn như là linh hồn, sự sống của Hàn, đã chinh phục những giám khảo điêu khắc khó tính nhất. Tôi chỉ được xem bức ảnh chụp bài thi đã rùng mình, bởi chợt nhớ câu thơ Hàn:
- Hôm nay có một nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
Ta nhớ mình xa thương đứt ruột
...
Vầng trăng - một nửa ấy là một cảm nhận hoàn toàn khác với "Vầng trăng ai xẻ làm đôi" của Nguyễn Du, nhưng lại giống lạ kì ở phẩm chất của những kẻ trót sinh ra cùng một "nòi tình"! Nửa trăng của Hàn "ai cắn vỡ" đã hiện hữu như một biểu tượng đau thương của một hồn thơ luôn khao khát hòa nhập giữa cuộc đời:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Thần thái của thơ Hàn là từ vầng trăng đợi chờ, vầng trăng đau thương một nửa kia. Để thành thơ, thành tình người vô lượng:
Tôi ước ao là tôi ước ao
Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao
Như bông trăng nở, bông trăng nở
Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào

Vầng trăng khuyết ấy, trái tim đau ấy đang phiêu du ở một chốn nào, đang "chơi giữa mùa trăng" liệu có kịp về với bến sông Trăng?
2.12.2011
TRẦN HÀ NAM

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

Rèn luyện cảm xúc...

Giữ được cảm xúc cho những tác phẩm đã đọc đi đọc lại thật là một vấn đề nan giải. Nhưng nếu chịu khó rèn luyện có lẽ cũng không khó để nuôi dưỡng cảm xúc! Điều duy nhất có thể làm chính là luyện viết, tập diễn đạt! Đọc đi đọc lại một tác phẩm nào đó, sẽ có cảm hứng viết cho những suy nghĩ mới mẻ của mình! Chỉ cần dành chút thời gian cho văn chương thì văn chương không phụ. Và một điều nữa, tác phẩm văn chương sẽ có thêm nhiều ý nghĩa nếu như ta biết liên hệ với thực tế, viết qua trải nghiệm của bản thân. Mà trải nghiệm của con người thì không ngừng đầy đặn thêm cùng thời gian. Bởi thế mà mới có câu "thầy già, con hát trẻ"! Rồi sẽ đến lúc những nhu cầu diễn đạt hình thức tân kì qua đi, cái còn lại chính là độ sâu của lời văn, độ chín của tư duy.
Có lẽ đây cũng chỉ mới là những phác thảo cho một cách học văn hiệu quả, và tự bóc tách chính mình, để ra đề cho mình viết, cho siêng năng hơn, và bớt chai lì!
***
Tiếp tục tản mạn văn chương, xung quanh Đời Thừa của Nam Cao - một tác phẩm từng là nỗi ám ảnh những ngày đầu đi dạy. Trải nghiệm bằng tâm thế hiện giờ, xem thử lòng mình có khác!
Hộ là một nhà văn - một nhân vật mà Nam Cao gửi gắm chính mình trong đó rất nhiều. Những trăn trở về nghề nghiệp cũng là nỗi niềm đắng chát trước hiện thực và sự trăn trở của chính Nam Cao trên hành trình khát vọng của mình. Thời Nam Cao, danh xưng nhà văn thật cao quý, và ông đã thổi vào trong nhân vật của mình khát vọng sống nhân đạo và viết nhân đạo. nhân vật bị đặt giữa những xung đột nghệ thuật và cuộc sống, những suy tư giằng xé làm thế nào để được sống đúng là mình, không mang mặc cảm sống thừa. Bi kịch ấy chỉ có được ở những cây bút có lương tri, lương năng. Thời nay, khi các giá trị thực dụng lên ngôi, không biết cuộc sống có bao người như Hộ? Và giả sử Nam Cao tiếp tục phát triển những suy tư của mình về Hộ, thì liệu một khi nhà văn trải qua quá nhiều thực tế đắng chát, anh ta có còn ắp đầy giọt nước mắt ân hận, có còn nghiến răng tự rủa xả mình? Câu chuyện về Hộ, chuyện đời của Hộ dành cho những ai ôm hoài bão cháy bỏng về văn chương, không quá đề cao nghệ thuật tối thượng để tách rời khỏi những nhu cầu cơ bản nhất của đời sống cơm áo gạo tiền. Những mong làm một cái gì thật lớn lao, nhưng chỉ lo cơm áo gạo tiền đủ mệt óc - điều Nam Cao trăn trở ấy có lẽ không giới hạn trong thời ông sống mà là chuyện của muôn đời. Có thể ứa nước mắt vì thấy rằng giấc mộng viết tác phẩm "vượt lên trên mọi bờ cõi và giới hạn, là tác phẩm chung cho cả loài người" ở một xã hội rẻ rúng văn chương thì chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành hiện thực. Và như vậy, nhà văn Việt Nam chân chính mãi mãi lâm vào bi kịch. Truyện Nam Cao lớn vì mổ xẻ những điều vặt vãnh của cuộc sống một cách thấu đáo, không đại ngôn bốc đồng như những cây bút thích nói những điều to tát nhưng chuyển tải thông điệp cuộc sống bé con con. Có bao người khi ngồi trước trang giấy, cảm thấy mệt mỏi vì những áp lực cuộc sống biến mình thành kẻ vô tích sự, một người thừa như Hộ? Có lẽ trong các truyện của Nam Cao về đề tài trí thức, đây là một trong những tác phẩm nói về giá trị của tiền một cách có lý. Tiền bạc và Hạnh phúc với một nhà văn nghèo "có cả một gia đình phải chăm lo" dường như vận hành theo một chu trình trái ngược nhau. Nam Cao còn chỉ ra cả những nguyên nhân chủ quan làm nên bi kịch của Hộ là thói bốc đồng nghệ sĩ, căn bệnh sĩ khiến cho trong phút chốc tiền bạc không cánh mà bay theo những mơ ước viển vông xa vời và những lời đao to búa lớn. Những "văn sĩ" thời nay khi coi văn chương là một trò chơi, một cuộc chơi có thể kiếm cho họ rất nhiều tiền liệu có bĩu môi trước một anh Hộ của một thời không xa lắm? Sự nhạy cảm của một nhà văn đã khiến cho Nam Cao sau này đã viết truyện Đôi Mắt để nói về dạng "văn sĩ kiêm tay chợ đen" qua nhân vật Hoàng - một đối cực với Hộ của Đời Thừa. Nghĩa là Nam Cao trung thành với tín điều đã xác định "có ai giàu có bạc vạn đem đổi lấy cái khổ thì vị tất đã đổi của mình". Cái khổ của sự sáng tạo với Nam Cao dường như không song hành với tiền bạc như nước. Và nhà văn khi để đồng tiền chi phối thì văn chương dường như cũng nhạt đi. Hộ là một mẫu hình trí thức theo quan niệm Nam Cao - thuần túy không pha tạp chất con buôn của những tay đầu cơ chữ nghĩa và đánh đĩ văn chương. Bởi thế nhân vật cũng là một cảnh tỉnh với những người cầm bút.
11.2011
T.H.N

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Thử vài đoạn phân tích văn theo nhiều phong cách...

Phân tích văn có qui tắc nhưng cũng rất ngẫu hứng! Điều quan trọng là không để cho cảm xúc bị chai, điều này thật khó với những giáo viên dạy lâu năm, để cho thao tác phân tích dần dần đi vào lối mòn! Nếu không luyện viết, lâu ngày sẽ đến lúc bị rơi vào trạng thái như một cái máy, lặp đi lặp lại một vài giọng điệu phân tích.
Rảnh quá, không làm gì cho tập trung, lại bị cuốn vào hành trình lang thang mạng, nên quyết định dành thời gian còn thức này, viết tập vài đoạn phân tích, cho đỡ nhàm! Vì là ngẫu hứng, nên sẽ không coi đây là chuẩn mực cho ai cả, mà chỉ là kiểm tra khả năng viết của chính mình. Có thể trong quá trình viết, nổi hứng viết hài một tí cũng chả sao, coi như là cách xả xì trét.
Trước hết là tự ra đề cho mình: Chọn một đoạn văn trong trích đoạn VỢ CHỒNG A PHỦ của Tô Hoài diễn tả tâm trạng của Mị trong đêm cắt dây trói cứu A Phủ.
Về các ý sẽ phân tích:- Sự đối lập không gian và con người: Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn --> Mị ra sưởi lửa, chỉ biết chỉ còn với ngọn lửa >< tâm hồn lạnh băng, đầy bóng tối bi kịch - Phân tích trong tương quan từng đoạn văn, theo tiến trình: Ngọn lửa sưởi bùng lên - ngọn lửa bập bùng - đám than vạc hẳn lửa - trong nhà tối bưng - trời tối lắm <--> MỊ: nhìn - thản nhiên (A Phủ có là cái xác chết cũng vậy) --> lé mắt nhìn "dòng nước mắt chảy xuống hai hõm má đã xám đen" của A Phủ - đồng cảm, bất bình (nghĩ đến người đàn bà bị trói đến chết - Chúng nó thật độc ác - A Phủ cũng sẽ chết đói, chết đau, chết rét, phải chết) --> Mị nghĩ mình bị trói thay cũng không sợ --> (A Phủ nhắm mắt, thở phè từng hồi) cắt dây trói, hoảng hốt giục A Phủ chạy --> đứng lặng trong bóng tối --> chạy theo A Phủ - tự giải phóng chính mình, cắt sợi dây trói vô hình).

BẮT ĐẦU CHỌN VÀ VIẾT ĐOẠN PHÂN TÍCH MỘT Ý TRONG ĐOẠN TRÍCH:
1. Tô Hoài dựng lên một trường đoạn tâm lý nhân vật đầy xung đột, trong đoạn trích điển hình về Mị trong "những đêm mùa đông trên núi cao thật dài và buồn" với sự đối lập Ánh Sáng - Bóng Tối. Bóng tối của hiện thực và Ánh sáng của tâm hồn! Hai chu trình vận động khách quan và chủ quan trái chiều nhau. "Ngọn lửa sưởi" là chi tiết nghệ thuật đắt giá, càng lúc càng lụi dần đi và cuối cùng chỉ còn lại một bóng tối mênh mông cả trong nhà lẫn ngoài nhà. Nhưng có một ngọn lửa khác của tình thương, lòng căm hận, sức phản kháng cứ nhen nhóm dần lên trong lòng Mị, dẫn đến quyết định táo bạo của cô cắt dây trói cứu A Phủ và tự cứu lấy chính mình. Qua đoạn trích, ta nhận ra khát vọng sống, khát vọng tự do vẫn âm ỉ trong lòng Mị, và tạo nên sự phục sinh tâm hồn của cô. Đó cũng là dụng ý nghệ thuật của nhà văn, chứa đựng tư tưởng nhân đạo sâu sắc, lời khẳng định cho vẻ đẹp và sức sống tâm hồn Mị bộc lộ trọn vẹn. Tình thương của Mị làm nên sức mạnh. Thương người và thương cả chính mình, không có gì trọn vẹn hơn là phải hành động để cứu người và tự cứu chính mình. Đó cũng là bức thông điệp chứa đựng cảm hứng lãng mạn, chất thơ trong cảnh vật và con người Tây Bắc qua ngòi bút Tô Hoài.
2. Đọc đoạn trích về tâm trạng của Mị trong đêm cắt dây trói cứu A Phủ, chắc hẳn lòng chúng ta còn mang theo bao ám ảnh về hình tượng nhân vật trong tương quan với ngọn lửa sưởi. Người con gái tài hoa xinh đẹp tự do mà cuộc sống hiện tại chìm đắm trong tủi nhục câm lặng, ngỡ như tê liệt mọi giác quan, cảm xúc đã đi đến một quyết định táo bạo, dũng cảm khi cắt đi sợi dây trói thòng lọng bóp nghẹt sự sống của chàng trai A Phủ và tự cắt sợi thòng lọng định mệnh "bóng ma nhà thống lý" ám ảnh trong tâm hồn. Làm sao mà không rưng rưng xúc động trước sự hồi sinh kì diệu như cây khô đâm chồi, gương vỡ lại lành của Mị? Cái nhìn của cô đã được nhà văn khắc họa bằng tất cả tài nghệ miêu tả của một cây bút bậc thầy, chứa đựng biết bao nhiêu uẩn khúc tâm trạng, bùng cháy thành ngọn lửa của tình thương yêu và quyết tâm hành động cứu người cứu mình! Tâm hồn cô từ chỗ bị phong tỏa trong bóng tối mịt mùng của định mệnh - gắn chặt với sự giám sát theo dõi của "con ma nhà thống lí" - nhen nhóm dần một ngọn lửa tình thương, từ chỗ âm ỉ đến chỗ bùng phát mãnh liệt. Ngọn lửa ấy làm khô đi "dòng nước mắt lăn xuống hai hõm má đã xám đen lại" của A Phủ, thiêu đốt sợi dây trói bạo quyền ma mị bó rịt lấy cuộc đời của chính cô. Quá trình phát triển tâm lí của Mị diễn ra hết sức tự nhiên và chân thật, mộc mạc đã cất lên thành tiếng trong những lời trần thuật nửa trực tiếp, từ chỗ "thản nhiên" trong cái nhìn dửng dưng vô cảm đến chỗ thổn thức nghĩ về bất hành đời mình và xót xa cho nỗi oan ức của chàng trai trẻ đang uất hận thấy cái chết từ từ đến với mình, để rồi tiếp thêm cho cô sức mạnh vượt qua nỗi sợ hãi mơ hồ tìm đến con đường giải thoát, hướng về tự do, tìm lại sự sống đích thực cho chính mình. "Chất thơ vời vợi bay lên từ cảnh sắc và con người Tây Bắc" chính là khát vọng mãnh liệt của người phụ nữ tích tụ trong trái tim để bùng lên phá tung màn đêm dày đặc của hiện thực, hướng về ánh sáng tự do, sống một cuộc đời mới đúng nghĩa. Mị - con người tự ý thức! Mị - con người vượt lên chính mình! Mị - tất cả sự thương yêu trân trọng của nhà văn dành cho con người.
3. Ta đã thấy gì ở Mị? Con người lạnh lùng vô cảm làm sao! Ta bị trói đứng nơi góc cột, phải chăng em "thản nhiên" vì cảnh tượng này đâu có xa lạ với em? Mắt ta mở trừng trừng trong tuyệt vọng, nhưng soi vào mắt em ta chỉ thấy vô hồn! Ngọn lửa sưởi kia ơi, liệu có sưởi được trái tim em đang băng giá? Cú đạp của thằng A Sử làm ta sôi sục trái tim hào hiệp, nhưng ta đành bất lực nhìn em tiếp tục ngồi dậy trong lặng câm "chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa". Chả lẽ nhà thống lí Pá Tra đã làm em thành gỗ đá mất rồi sao?
Ồ, em lé mắt nhìn sang ta!!! (Có phải là em bị mắt lé!!!???) Em vẫn còn thấy sự hiện diện của ta sao? Dẫu chỉ là một chút thoáng qua... Em có thấy dòng nước mắt của ta đang chảy? Ta kiệt sức rồi, hõm má ta đã xám đen! (Hmm, thằng thống lí Pá Tra mất dạy nó trói và bỏ đói ta không cho ăn uống gì cả!). Em nghĩ gì hả Mị? Có phải là em nghĩ về ngày em bị trói đến gục ngã, nghĩ về những người đàn bà bị trói đến chết cũng ở góc nhà này! Chúng nó thật độc ác phải không em! Ta làm gì nên tội? Tại sao ta phải chết, khi ta đang còn muốn sống! Nhưng trời ơi, sợi dây trói thít vào thịt da ta như có lửa xát vào tận xương tủy. Ta...ta... không thể tự cứu được mình rồi! (Biết thế hôm đó ta chạy quách cho xong, có các vàng ta cũng không tự tay đóng cọc trói mình để giờ đây ta nhận ra sự ngu muội của mình, nó coi ta còn thua con bò nhà nó!!! Đúng là ta ngu như bò!) [HE HE, NỔI MÁU TÀ LÊN PHÂN TÍCH THEO ĐIỂM NHÌN NHÂN VẬT A PHỦ XẢ STRESS TRƯỚC KHI ĐI NGỦ! 2 H SÁNG RỒI! NGỦ THÔI! LÚC NÀO CÓ HỨNG LẠI TIẾP TỤC!]

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Nghị luận xã hội: Yêu quê hương


LẬP DÀN Ý VÀ BÀI VIẾT CHO ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG NGỮ VĂN 11   
Đề 3: Từ các bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Đây mùa thu tới, Thơ duyên, Tràng giang, Chiều xuân…hãy viết bài văn trình bày quan niệm của anh (chị) về lòng yêu quê hương
DÀN Ý :
I. Mở bài: Giới thiệu các bài thơ, nêu quan niệm về lòng yêu quê hương
II. Thân bài:
A. Tổng:
1. Khái quát nội dung lòng yêu quê hương qua các bài thơ
2. Thế nào là yêu quê hương?
B. Phân:
1. Những biểu hiện của lòng yêu quê hương
2. Phê phán quan niệm chật hẹp về lòng yêu quê hương
C. Hợp:
1. Tổng quát lòng yêu quê hương - đất nước
2. Liên hệ bản thân, rút ra bài học
III. Kết bài:
Ý nghĩa lòng yêu quê hương
Bài viết:
Đã có thời trong xã hội chúng ta quan niệm một cách đơn giản về lòng yêu quê hương chỉ gắn với tình cảm công dân, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc. Vì vậy những bài thơ lãng mạn trong phong trào Thơ Mới được xem là tiếng nói tình cảm cá nhân ủy mị, tiêu cực. Tuy nhiên, cùng với những thành quả đổi mới đất nước, những tác giả tác phẩm lãng mạn được đưa vào trong chương trình phổ thông. Tiếp xúc với các tác phẩm của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Anh Thơ, chúng ta chợt nhận ra lòng yêu quê hương có nội dung phong phú đa dạng hơn nhiều.
            Những bài thơ gắn với tiếng nói cá nhân vẫn ẩn bên trong một tình cảm yêu nước kín đáo, bộc lộ qua tình yêu với con người, cảnh vật, quê hương. Hình ảnh quê hương đất nước hiện lên trong các bài thơ đem lại những cảm nhận rất riêng nhưng lại rung cảm bao thế hệ độc giả. Một địa danh thôn Vỹ đi vào nỗi nhớ, gắn kết ân tình với xứ Huế trong Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử, làm ta yêu hơn cái trong trẻo  nắng hàng cau, cái huyền ảo của bến sông Trăng, cái bâng khuâng sương khói mờ nhân ảnh của mảnh đất cố đô. Không gian của buổi chiều thu cho đôi lứa tìm đến nhau trong Thơ Duyên cũng khiến ta cảm nhận sắc thái thiên nhiên hoà hợp quấn quít trên cây cỏ, chim muông, trên con đường nhỏ nhỏ, sắc nắng trở chiều, màu mây biếc và bâng khuâng với “con cò trên ruộng cánh phân vân”. Ta ngỡ ngàng khi phát hiện những vui buồn của con người gửi cả vào trong sắc thái mùa thu ở Đây mùa thu tới, một rặng liễu, một sắc “áo mơ phai dệt lá vàng”, “nàng trăng tự ngẩn ngơ”, những hình ảnh mùa thu rất quen và rất lạ được nói lên qua hồn thơ say đắm của Xuân Diệu. Quê hương còn hiện lên qua nỗi buồn mang tầm vóc vũ trụ, của chàng thi sĩ Huy Cận đứng trên quê hương mà vẫn cảm thấy “thiếu quê hương”, chuyển tải bao tâm sự nỗi niềm của người dân mất nước, khi đối diện Tràng giang: nỗi “sầu trăm ngả” lan toả trên sóng nước, con thuyền, cành củi, cánh bèo, “sông dài trời rộng bến cô liêu” kết lại thành nỗi niềm “lòng quê dợn dợn vời con nước – không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi dậy tình yêu giang sơn Tổ quốc. Quê hương còn đẹp giản dị trong Chiều xuân của Anh Thơ, làng quê Việt Nam đẹp một cách nao lòng trong cỏ xanh, mưa xuân, đàn bò đủng đỉnh, cô yếm thắm…qua những rung cảm trong trẻo của tâm hồn thiếu nữ. Tất cả những bài thơ ấy viết về con người, cảnh vật, làng quê…đều gặp nhau ở một điểm: tình cảm yêu nước kín đáo.
            Từ những bài thơ ấy, ta chợt hiểu ra yêu quê hương trước hết phải là yêu thương gắn bó với mảnh đất – con người quê hương, biết rung động trước những vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, vui buồn với vận mệnh dân tộc. Tình yêu quê hương bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt hàng ngày, những tình cảm đôi lứa, tình yêu sự gắn bó với gia đình, làng quê, đó là tình cảm trong sáng nhất, cao cả và góp phần làm thanh lọc tâm hồn con người. Đó cũng là tình cảm gắn kết cá nhân với cộng đồng, tạo nên sự đồng cảm, sự lắng đọng sâu sắc và thường trực trong trái tim con người. Chính sự gắn kết ấy làm nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, thành ý chí bất khuất, sức mạnh chiến đấu, quyết tâm bảo vệ đất nước, đánh đuổi ngoại xâm, ý thức xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
            Nếu chỉ hiểu đơn giản yêu quê hương là tình cảm công dân, với ý thức trách nhiệm đặt lên hàng đầu mà không quan tâm giáo dục tình yêu ấy bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt thì tâm hồn con người sẽ trở nên chai sạn biết bao. Chưa kể rằng, có những kẻ hô hào khẩu hiệu, nhưng thực tế lại sống giả tạo. Không thể yêu đất nước, yêu dân tộc mà không xuất phát từ tình cảm yêu mến, gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn, gia đình, làng xóm, yêu những con người gần gũi quanh ta. Đúng như Tố Hữu nói: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt – Như mẹ cha ta, như vợ như chồng”, mở rộng ra tình cảm ấy còn là tình yêu đôi lứa, là cơ sở để “người yêu người, sống để yêu nhau”. Tình yêu ấy không hẳn chỉ thể hiện qua hành động đứng lên đánh lại kẻ thù, mà trước tiên phải xuất phát từ nỗi đau buồn khi nước mất nhà tan, nỗi uất nghẹn khi quê hương bị kẻ thù giày xéo. Không thể có tình yêu dân tộc chung chung nếu không xuất phát từ tình yêu con người cụ thể. Từ nhận thức đến tình cảm, từ suy nghĩ đến hành động luôn thường trực tình cảm yêu quê hương đất nước.
            Bản thân mỗi học sinh chúng ta cũng phải luôn xác định quan niệm đúng đắn về lòng yêu quê hương, bằng cách luôn trau dồi tu dưỡng những tình cảm nhân văn, phải sống đẹp với mọi người, biết rung động trước cái đẹp cuộc sống  quanh ta. Khi còn là học sinh, biết yêu mến con người và mảnh đất mà ta đang sống, đang tiếp xúc hàng ngày, biến tình cảm thành hành vi ứng xử hàng ngày, có mục đích, có hoài bão vun trồng tài năng để sau này cống hiến cho đất nước, thiết tưởng cũng là ươm mầm cho lòng yêu quê hương đất nước ngày càng phát triển bền vững hơn.