Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

Rèn luyện cảm xúc...

Giữ được cảm xúc cho những tác phẩm đã đọc đi đọc lại thật là một vấn đề nan giải. Nhưng nếu chịu khó rèn luyện có lẽ cũng không khó để nuôi dưỡng cảm xúc! Điều duy nhất có thể làm chính là luyện viết, tập diễn đạt! Đọc đi đọc lại một tác phẩm nào đó, sẽ có cảm hứng viết cho những suy nghĩ mới mẻ của mình! Chỉ cần dành chút thời gian cho văn chương thì văn chương không phụ. Và một điều nữa, tác phẩm văn chương sẽ có thêm nhiều ý nghĩa nếu như ta biết liên hệ với thực tế, viết qua trải nghiệm của bản thân. Mà trải nghiệm của con người thì không ngừng đầy đặn thêm cùng thời gian. Bởi thế mà mới có câu "thầy già, con hát trẻ"! Rồi sẽ đến lúc những nhu cầu diễn đạt hình thức tân kì qua đi, cái còn lại chính là độ sâu của lời văn, độ chín của tư duy.
Có lẽ đây cũng chỉ mới là những phác thảo cho một cách học văn hiệu quả, và tự bóc tách chính mình, để ra đề cho mình viết, cho siêng năng hơn, và bớt chai lì!
***
Tiếp tục tản mạn văn chương, xung quanh Đời Thừa của Nam Cao - một tác phẩm từng là nỗi ám ảnh những ngày đầu đi dạy. Trải nghiệm bằng tâm thế hiện giờ, xem thử lòng mình có khác!
Hộ là một nhà văn - một nhân vật mà Nam Cao gửi gắm chính mình trong đó rất nhiều. Những trăn trở về nghề nghiệp cũng là nỗi niềm đắng chát trước hiện thực và sự trăn trở của chính Nam Cao trên hành trình khát vọng của mình. Thời Nam Cao, danh xưng nhà văn thật cao quý, và ông đã thổi vào trong nhân vật của mình khát vọng sống nhân đạo và viết nhân đạo. nhân vật bị đặt giữa những xung đột nghệ thuật và cuộc sống, những suy tư giằng xé làm thế nào để được sống đúng là mình, không mang mặc cảm sống thừa. Bi kịch ấy chỉ có được ở những cây bút có lương tri, lương năng. Thời nay, khi các giá trị thực dụng lên ngôi, không biết cuộc sống có bao người như Hộ? Và giả sử Nam Cao tiếp tục phát triển những suy tư của mình về Hộ, thì liệu một khi nhà văn trải qua quá nhiều thực tế đắng chát, anh ta có còn ắp đầy giọt nước mắt ân hận, có còn nghiến răng tự rủa xả mình? Câu chuyện về Hộ, chuyện đời của Hộ dành cho những ai ôm hoài bão cháy bỏng về văn chương, không quá đề cao nghệ thuật tối thượng để tách rời khỏi những nhu cầu cơ bản nhất của đời sống cơm áo gạo tiền. Những mong làm một cái gì thật lớn lao, nhưng chỉ lo cơm áo gạo tiền đủ mệt óc - điều Nam Cao trăn trở ấy có lẽ không giới hạn trong thời ông sống mà là chuyện của muôn đời. Có thể ứa nước mắt vì thấy rằng giấc mộng viết tác phẩm "vượt lên trên mọi bờ cõi và giới hạn, là tác phẩm chung cho cả loài người" ở một xã hội rẻ rúng văn chương thì chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành hiện thực. Và như vậy, nhà văn Việt Nam chân chính mãi mãi lâm vào bi kịch. Truyện Nam Cao lớn vì mổ xẻ những điều vặt vãnh của cuộc sống một cách thấu đáo, không đại ngôn bốc đồng như những cây bút thích nói những điều to tát nhưng chuyển tải thông điệp cuộc sống bé con con. Có bao người khi ngồi trước trang giấy, cảm thấy mệt mỏi vì những áp lực cuộc sống biến mình thành kẻ vô tích sự, một người thừa như Hộ? Có lẽ trong các truyện của Nam Cao về đề tài trí thức, đây là một trong những tác phẩm nói về giá trị của tiền một cách có lý. Tiền bạc và Hạnh phúc với một nhà văn nghèo "có cả một gia đình phải chăm lo" dường như vận hành theo một chu trình trái ngược nhau. Nam Cao còn chỉ ra cả những nguyên nhân chủ quan làm nên bi kịch của Hộ là thói bốc đồng nghệ sĩ, căn bệnh sĩ khiến cho trong phút chốc tiền bạc không cánh mà bay theo những mơ ước viển vông xa vời và những lời đao to búa lớn. Những "văn sĩ" thời nay khi coi văn chương là một trò chơi, một cuộc chơi có thể kiếm cho họ rất nhiều tiền liệu có bĩu môi trước một anh Hộ của một thời không xa lắm? Sự nhạy cảm của một nhà văn đã khiến cho Nam Cao sau này đã viết truyện Đôi Mắt để nói về dạng "văn sĩ kiêm tay chợ đen" qua nhân vật Hoàng - một đối cực với Hộ của Đời Thừa. Nghĩa là Nam Cao trung thành với tín điều đã xác định "có ai giàu có bạc vạn đem đổi lấy cái khổ thì vị tất đã đổi của mình". Cái khổ của sự sáng tạo với Nam Cao dường như không song hành với tiền bạc như nước. Và nhà văn khi để đồng tiền chi phối thì văn chương dường như cũng nhạt đi. Hộ là một mẫu hình trí thức theo quan niệm Nam Cao - thuần túy không pha tạp chất con buôn của những tay đầu cơ chữ nghĩa và đánh đĩ văn chương. Bởi thế nhân vật cũng là một cảnh tỉnh với những người cầm bút.
11.2011
T.H.N

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2011

Thử vài đoạn phân tích văn theo nhiều phong cách...

Phân tích văn có qui tắc nhưng cũng rất ngẫu hứng! Điều quan trọng là không để cho cảm xúc bị chai, điều này thật khó với những giáo viên dạy lâu năm, để cho thao tác phân tích dần dần đi vào lối mòn! Nếu không luyện viết, lâu ngày sẽ đến lúc bị rơi vào trạng thái như một cái máy, lặp đi lặp lại một vài giọng điệu phân tích.
Rảnh quá, không làm gì cho tập trung, lại bị cuốn vào hành trình lang thang mạng, nên quyết định dành thời gian còn thức này, viết tập vài đoạn phân tích, cho đỡ nhàm! Vì là ngẫu hứng, nên sẽ không coi đây là chuẩn mực cho ai cả, mà chỉ là kiểm tra khả năng viết của chính mình. Có thể trong quá trình viết, nổi hứng viết hài một tí cũng chả sao, coi như là cách xả xì trét.
Trước hết là tự ra đề cho mình: Chọn một đoạn văn trong trích đoạn VỢ CHỒNG A PHỦ của Tô Hoài diễn tả tâm trạng của Mị trong đêm cắt dây trói cứu A Phủ.
Về các ý sẽ phân tích:- Sự đối lập không gian và con người: Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn --> Mị ra sưởi lửa, chỉ biết chỉ còn với ngọn lửa >< tâm hồn lạnh băng, đầy bóng tối bi kịch - Phân tích trong tương quan từng đoạn văn, theo tiến trình: Ngọn lửa sưởi bùng lên - ngọn lửa bập bùng - đám than vạc hẳn lửa - trong nhà tối bưng - trời tối lắm <--> MỊ: nhìn - thản nhiên (A Phủ có là cái xác chết cũng vậy) --> lé mắt nhìn "dòng nước mắt chảy xuống hai hõm má đã xám đen" của A Phủ - đồng cảm, bất bình (nghĩ đến người đàn bà bị trói đến chết - Chúng nó thật độc ác - A Phủ cũng sẽ chết đói, chết đau, chết rét, phải chết) --> Mị nghĩ mình bị trói thay cũng không sợ --> (A Phủ nhắm mắt, thở phè từng hồi) cắt dây trói, hoảng hốt giục A Phủ chạy --> đứng lặng trong bóng tối --> chạy theo A Phủ - tự giải phóng chính mình, cắt sợi dây trói vô hình).

BẮT ĐẦU CHỌN VÀ VIẾT ĐOẠN PHÂN TÍCH MỘT Ý TRONG ĐOẠN TRÍCH:
1. Tô Hoài dựng lên một trường đoạn tâm lý nhân vật đầy xung đột, trong đoạn trích điển hình về Mị trong "những đêm mùa đông trên núi cao thật dài và buồn" với sự đối lập Ánh Sáng - Bóng Tối. Bóng tối của hiện thực và Ánh sáng của tâm hồn! Hai chu trình vận động khách quan và chủ quan trái chiều nhau. "Ngọn lửa sưởi" là chi tiết nghệ thuật đắt giá, càng lúc càng lụi dần đi và cuối cùng chỉ còn lại một bóng tối mênh mông cả trong nhà lẫn ngoài nhà. Nhưng có một ngọn lửa khác của tình thương, lòng căm hận, sức phản kháng cứ nhen nhóm dần lên trong lòng Mị, dẫn đến quyết định táo bạo của cô cắt dây trói cứu A Phủ và tự cứu lấy chính mình. Qua đoạn trích, ta nhận ra khát vọng sống, khát vọng tự do vẫn âm ỉ trong lòng Mị, và tạo nên sự phục sinh tâm hồn của cô. Đó cũng là dụng ý nghệ thuật của nhà văn, chứa đựng tư tưởng nhân đạo sâu sắc, lời khẳng định cho vẻ đẹp và sức sống tâm hồn Mị bộc lộ trọn vẹn. Tình thương của Mị làm nên sức mạnh. Thương người và thương cả chính mình, không có gì trọn vẹn hơn là phải hành động để cứu người và tự cứu chính mình. Đó cũng là bức thông điệp chứa đựng cảm hứng lãng mạn, chất thơ trong cảnh vật và con người Tây Bắc qua ngòi bút Tô Hoài.
2. Đọc đoạn trích về tâm trạng của Mị trong đêm cắt dây trói cứu A Phủ, chắc hẳn lòng chúng ta còn mang theo bao ám ảnh về hình tượng nhân vật trong tương quan với ngọn lửa sưởi. Người con gái tài hoa xinh đẹp tự do mà cuộc sống hiện tại chìm đắm trong tủi nhục câm lặng, ngỡ như tê liệt mọi giác quan, cảm xúc đã đi đến một quyết định táo bạo, dũng cảm khi cắt đi sợi dây trói thòng lọng bóp nghẹt sự sống của chàng trai A Phủ và tự cắt sợi thòng lọng định mệnh "bóng ma nhà thống lý" ám ảnh trong tâm hồn. Làm sao mà không rưng rưng xúc động trước sự hồi sinh kì diệu như cây khô đâm chồi, gương vỡ lại lành của Mị? Cái nhìn của cô đã được nhà văn khắc họa bằng tất cả tài nghệ miêu tả của một cây bút bậc thầy, chứa đựng biết bao nhiêu uẩn khúc tâm trạng, bùng cháy thành ngọn lửa của tình thương yêu và quyết tâm hành động cứu người cứu mình! Tâm hồn cô từ chỗ bị phong tỏa trong bóng tối mịt mùng của định mệnh - gắn chặt với sự giám sát theo dõi của "con ma nhà thống lí" - nhen nhóm dần một ngọn lửa tình thương, từ chỗ âm ỉ đến chỗ bùng phát mãnh liệt. Ngọn lửa ấy làm khô đi "dòng nước mắt lăn xuống hai hõm má đã xám đen lại" của A Phủ, thiêu đốt sợi dây trói bạo quyền ma mị bó rịt lấy cuộc đời của chính cô. Quá trình phát triển tâm lí của Mị diễn ra hết sức tự nhiên và chân thật, mộc mạc đã cất lên thành tiếng trong những lời trần thuật nửa trực tiếp, từ chỗ "thản nhiên" trong cái nhìn dửng dưng vô cảm đến chỗ thổn thức nghĩ về bất hành đời mình và xót xa cho nỗi oan ức của chàng trai trẻ đang uất hận thấy cái chết từ từ đến với mình, để rồi tiếp thêm cho cô sức mạnh vượt qua nỗi sợ hãi mơ hồ tìm đến con đường giải thoát, hướng về tự do, tìm lại sự sống đích thực cho chính mình. "Chất thơ vời vợi bay lên từ cảnh sắc và con người Tây Bắc" chính là khát vọng mãnh liệt của người phụ nữ tích tụ trong trái tim để bùng lên phá tung màn đêm dày đặc của hiện thực, hướng về ánh sáng tự do, sống một cuộc đời mới đúng nghĩa. Mị - con người tự ý thức! Mị - con người vượt lên chính mình! Mị - tất cả sự thương yêu trân trọng của nhà văn dành cho con người.
3. Ta đã thấy gì ở Mị? Con người lạnh lùng vô cảm làm sao! Ta bị trói đứng nơi góc cột, phải chăng em "thản nhiên" vì cảnh tượng này đâu có xa lạ với em? Mắt ta mở trừng trừng trong tuyệt vọng, nhưng soi vào mắt em ta chỉ thấy vô hồn! Ngọn lửa sưởi kia ơi, liệu có sưởi được trái tim em đang băng giá? Cú đạp của thằng A Sử làm ta sôi sục trái tim hào hiệp, nhưng ta đành bất lực nhìn em tiếp tục ngồi dậy trong lặng câm "chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa". Chả lẽ nhà thống lí Pá Tra đã làm em thành gỗ đá mất rồi sao?
Ồ, em lé mắt nhìn sang ta!!! (Có phải là em bị mắt lé!!!???) Em vẫn còn thấy sự hiện diện của ta sao? Dẫu chỉ là một chút thoáng qua... Em có thấy dòng nước mắt của ta đang chảy? Ta kiệt sức rồi, hõm má ta đã xám đen! (Hmm, thằng thống lí Pá Tra mất dạy nó trói và bỏ đói ta không cho ăn uống gì cả!). Em nghĩ gì hả Mị? Có phải là em nghĩ về ngày em bị trói đến gục ngã, nghĩ về những người đàn bà bị trói đến chết cũng ở góc nhà này! Chúng nó thật độc ác phải không em! Ta làm gì nên tội? Tại sao ta phải chết, khi ta đang còn muốn sống! Nhưng trời ơi, sợi dây trói thít vào thịt da ta như có lửa xát vào tận xương tủy. Ta...ta... không thể tự cứu được mình rồi! (Biết thế hôm đó ta chạy quách cho xong, có các vàng ta cũng không tự tay đóng cọc trói mình để giờ đây ta nhận ra sự ngu muội của mình, nó coi ta còn thua con bò nhà nó!!! Đúng là ta ngu như bò!) [HE HE, NỔI MÁU TÀ LÊN PHÂN TÍCH THEO ĐIỂM NHÌN NHÂN VẬT A PHỦ XẢ STRESS TRƯỚC KHI ĐI NGỦ! 2 H SÁNG RỒI! NGỦ THÔI! LÚC NÀO CÓ HỨNG LẠI TIẾP TỤC!]

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Nghị luận xã hội: Yêu quê hương


LẬP DÀN Ý VÀ BÀI VIẾT CHO ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG NGỮ VĂN 11   
Đề 3: Từ các bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Đây mùa thu tới, Thơ duyên, Tràng giang, Chiều xuân…hãy viết bài văn trình bày quan niệm của anh (chị) về lòng yêu quê hương
DÀN Ý :
I. Mở bài: Giới thiệu các bài thơ, nêu quan niệm về lòng yêu quê hương
II. Thân bài:
A. Tổng:
1. Khái quát nội dung lòng yêu quê hương qua các bài thơ
2. Thế nào là yêu quê hương?
B. Phân:
1. Những biểu hiện của lòng yêu quê hương
2. Phê phán quan niệm chật hẹp về lòng yêu quê hương
C. Hợp:
1. Tổng quát lòng yêu quê hương - đất nước
2. Liên hệ bản thân, rút ra bài học
III. Kết bài:
Ý nghĩa lòng yêu quê hương
Bài viết:
Đã có thời trong xã hội chúng ta quan niệm một cách đơn giản về lòng yêu quê hương chỉ gắn với tình cảm công dân, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc. Vì vậy những bài thơ lãng mạn trong phong trào Thơ Mới được xem là tiếng nói tình cảm cá nhân ủy mị, tiêu cực. Tuy nhiên, cùng với những thành quả đổi mới đất nước, những tác giả tác phẩm lãng mạn được đưa vào trong chương trình phổ thông. Tiếp xúc với các tác phẩm của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Anh Thơ, chúng ta chợt nhận ra lòng yêu quê hương có nội dung phong phú đa dạng hơn nhiều.
            Những bài thơ gắn với tiếng nói cá nhân vẫn ẩn bên trong một tình cảm yêu nước kín đáo, bộc lộ qua tình yêu với con người, cảnh vật, quê hương. Hình ảnh quê hương đất nước hiện lên trong các bài thơ đem lại những cảm nhận rất riêng nhưng lại rung cảm bao thế hệ độc giả. Một địa danh thôn Vỹ đi vào nỗi nhớ, gắn kết ân tình với xứ Huế trong Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử, làm ta yêu hơn cái trong trẻo  nắng hàng cau, cái huyền ảo của bến sông Trăng, cái bâng khuâng sương khói mờ nhân ảnh của mảnh đất cố đô. Không gian của buổi chiều thu cho đôi lứa tìm đến nhau trong Thơ Duyên cũng khiến ta cảm nhận sắc thái thiên nhiên hoà hợp quấn quít trên cây cỏ, chim muông, trên con đường nhỏ nhỏ, sắc nắng trở chiều, màu mây biếc và bâng khuâng với “con cò trên ruộng cánh phân vân”. Ta ngỡ ngàng khi phát hiện những vui buồn của con người gửi cả vào trong sắc thái mùa thu ở Đây mùa thu tới, một rặng liễu, một sắc “áo mơ phai dệt lá vàng”, “nàng trăng tự ngẩn ngơ”, những hình ảnh mùa thu rất quen và rất lạ được nói lên qua hồn thơ say đắm của Xuân Diệu. Quê hương còn hiện lên qua nỗi buồn mang tầm vóc vũ trụ, của chàng thi sĩ Huy Cận đứng trên quê hương mà vẫn cảm thấy “thiếu quê hương”, chuyển tải bao tâm sự nỗi niềm của người dân mất nước, khi đối diện Tràng giang: nỗi “sầu trăm ngả” lan toả trên sóng nước, con thuyền, cành củi, cánh bèo, “sông dài trời rộng bến cô liêu” kết lại thành nỗi niềm “lòng quê dợn dợn vời con nước – không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi dậy tình yêu giang sơn Tổ quốc. Quê hương còn đẹp giản dị trong Chiều xuân của Anh Thơ, làng quê Việt Nam đẹp một cách nao lòng trong cỏ xanh, mưa xuân, đàn bò đủng đỉnh, cô yếm thắm…qua những rung cảm trong trẻo của tâm hồn thiếu nữ. Tất cả những bài thơ ấy viết về con người, cảnh vật, làng quê…đều gặp nhau ở một điểm: tình cảm yêu nước kín đáo.
            Từ những bài thơ ấy, ta chợt hiểu ra yêu quê hương trước hết phải là yêu thương gắn bó với mảnh đất – con người quê hương, biết rung động trước những vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, vui buồn với vận mệnh dân tộc. Tình yêu quê hương bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt hàng ngày, những tình cảm đôi lứa, tình yêu sự gắn bó với gia đình, làng quê, đó là tình cảm trong sáng nhất, cao cả và góp phần làm thanh lọc tâm hồn con người. Đó cũng là tình cảm gắn kết cá nhân với cộng đồng, tạo nên sự đồng cảm, sự lắng đọng sâu sắc và thường trực trong trái tim con người. Chính sự gắn kết ấy làm nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, thành ý chí bất khuất, sức mạnh chiến đấu, quyết tâm bảo vệ đất nước, đánh đuổi ngoại xâm, ý thức xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
            Nếu chỉ hiểu đơn giản yêu quê hương là tình cảm công dân, với ý thức trách nhiệm đặt lên hàng đầu mà không quan tâm giáo dục tình yêu ấy bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt thì tâm hồn con người sẽ trở nên chai sạn biết bao. Chưa kể rằng, có những kẻ hô hào khẩu hiệu, nhưng thực tế lại sống giả tạo. Không thể yêu đất nước, yêu dân tộc mà không xuất phát từ tình cảm yêu mến, gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn, gia đình, làng xóm, yêu những con người gần gũi quanh ta. Đúng như Tố Hữu nói: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt – Như mẹ cha ta, như vợ như chồng”, mở rộng ra tình cảm ấy còn là tình yêu đôi lứa, là cơ sở để “người yêu người, sống để yêu nhau”. Tình yêu ấy không hẳn chỉ thể hiện qua hành động đứng lên đánh lại kẻ thù, mà trước tiên phải xuất phát từ nỗi đau buồn khi nước mất nhà tan, nỗi uất nghẹn khi quê hương bị kẻ thù giày xéo. Không thể có tình yêu dân tộc chung chung nếu không xuất phát từ tình yêu con người cụ thể. Từ nhận thức đến tình cảm, từ suy nghĩ đến hành động luôn thường trực tình cảm yêu quê hương đất nước.
            Bản thân mỗi học sinh chúng ta cũng phải luôn xác định quan niệm đúng đắn về lòng yêu quê hương, bằng cách luôn trau dồi tu dưỡng những tình cảm nhân văn, phải sống đẹp với mọi người, biết rung động trước cái đẹp cuộc sống  quanh ta. Khi còn là học sinh, biết yêu mến con người và mảnh đất mà ta đang sống, đang tiếp xúc hàng ngày, biến tình cảm thành hành vi ứng xử hàng ngày, có mục đích, có hoài bão vun trồng tài năng để sau này cống hiến cho đất nước, thiết tưởng cũng là ươm mầm cho lòng yêu quê hương đất nước ngày càng phát triển bền vững hơn.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

Hình ảnh kỉ niệm cùng gia đình Áo Trắng


Tham dự lễ ra mắt tập Thơ tình duyên hải miền Trung tại Phú Yên và giao lưu Gia đình Áo Trắng Quy Nhơn với Đoàn Thạch Biền tại Bình Định

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Ấn tượng Cần Thơ


Hình ảnh Cần Thơ trong chuyến dẫn học sinh đi thi học sinh giỏi Olympic toàn miền Nam tại Cần Thơ: đi du thuyền trên sông Hậu thăm chợ nổi và miệt vườn - vườn Mận!

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Với tôi, Trịnh Công Sơn...

Có lẽ tôi bắt đầu biết nghe nhạc Trịnh từ cuối thời phổ thông và suốt những năm tháng học Đại học. Tôi tự hào vì ông là sinh viên trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, vì vậy khi nghe những Biển Nhớ, Hạ Trắng...tôi cứ cố hình dung ông viết ở nơi nào trong khuôn viên của trường Đại học!

Cũng lạ, chẳng hiểu sao những năm 86 - 90 quán xá lại nhiều băng Khánh Ly hát đến thế, có điều thời đó còn nhầm lẫn khi Khánh Ly hát Trầm Tử Thiêng mà cũng nghĩ đó là Trịnh! Cũng phải thôi, vì chúng tôi đâu có sinh ra và lớn lên ở miền Nam, đâu có dịp tiếp xúc hết với gia tài của Trịnh. Còn nhớ ở Quán cà phê Kem - Biên Cương ngồi nghe và hình dung qua những ca khúc Da Vàng: "Đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi lắng nghe...", thương cho đất nước và con người Việt Nam phải chịu cảnh đạn bom khốc liệt quá lâu! Và cảm nhận nỗi đau của người nghệ sĩ qua lửa đạn chiến chinh!

Còn nhớ những khoảnh khắc hàng giờ liền ngồi thiền nghe nhạc Trịnh, cảm nhận qua màn mưa những lời thủ thỉ "...mưa vẫn mưa bay qua miền đất rộng - Ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau..."! Nhạc Trịnh nghe vào những ngày mưa buồn thật, nhưng lại thấy lòng trong trẻo lạ! Có khi đi chơi vào Gành Ráng hay Quy Hòa, gặp hôm nắng đẹp là lại nghêu ngao: "Gọi nắng, trên vai em gầy, đường xa áo bay, nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say..."

Rồi mưu sinh mỏi mệt, thành công và thất bại trong cuộc sống cũng nhiều, lại tìm đến Trịnh như một nguồn an ủi, như tìm chút động viên. Còn nhớ, khi trải qua cảm giác ê chề vì bị sỉ nhục (dù rằng là thông tin sai), cả một đêm nghe đi nghe lại không chán bài hát "Tôi ơi, đừng tuyệt vọng" qua giọng ca của chính ông, và nhận lời an ủi của anh bạn cùng trường đang học bên kia bờ đại dương, thấy lòng vơi phiền muộn rất nhiều. Và như phép màu, qua 1 giờ đêm, từ nỗi tủi nhục biến thành niềm hạnh phúc vô bờ khi thông tin được đính chính. Lại có cảm giác Trịnh như đã đến bên mình, dịu nhẹ vỗ về...

Và còn bao lần nghe Trịnh, trong cảm giác lòng thắt lại vì thương những cảnh ngộ thiệt thòi, những số phận trớ trêu. Lúc ấy, lại vang lên lời hát như nhắn nhủ: "Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi..."

Vâng, để gió cuốn đi....

Thấm thoắt đã 10 năm. Ngày ấy, ngồi tại trường, đúng ngày Cá tháng Tư, đọc tin trên báo cứ ngỡ ngàng sửng sốt như một trò đùa. Tạo hóa thật nghiệt ngã chọn đúng ngày Cá để đón Trịnh về...Đến nỗi, khi đưa thông tin nóng lên mạng home.vnn.vn mình còn bị mắng: đùa gì mà ác thế! Và hơn 10 ngày sau, khi có mặt tại Sài Gòn, mình đã đến quán Sài Gòn Xanh dự một đêm tưởng niệm Trịnh thật đặc biệt do nhóm bạn ở Quãng Ngãi tổ chức. Hôm đó, đã hát như lên đồng liên khúc "Cát Bụi - Tình Xa", dù còn có chút vấp váp nhưng cũng đủ cho cảm nhận nỗi bàng hoàng: Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi, cát bụi mệt nhoài, mặt trời soi một kiếp rong chơi(...) Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày (...) Ngày tháng nào, đã ra đi khi ta còn ngồi lại, cuộc tình nào đã lên khơi ta còn mãi nơi đây. Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mê...

Thấm thoắt đã 10 năm, nhạc Trịnh vẫn còn làm ta nhớ bao ngày tháng đã đi qua, dù cho "mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi". Nhạc Trịnh vẫn vang ngân, "dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai..."

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Thơ Trần Hà Nam treo tại Nhạn Tháp (Phú Yên)


Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện đi Phú Yên dự ngày thơ, đã chụp được bài thơ treo trên đường lên núi Nhạn Tháp của Trần Hà Nam! Một kỉ niệm đẹp và anh đã gửi cho tôi những bức ảnh này!
Ảnh 1: Bài thơ SEN VÀ BÙN
Ảnh 2: Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện bên bài thơ trên đường lên núi Nhạn