Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2009

Nghị luận xã hội: Yêu quê hương


LẬP DÀN Ý VÀ BÀI VIẾT CHO ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG NGỮ VĂN 11   
Đề 3: Từ các bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Đây mùa thu tới, Thơ duyên, Tràng giang, Chiều xuân…hãy viết bài văn trình bày quan niệm của anh (chị) về lòng yêu quê hương
DÀN Ý :
I. Mở bài: Giới thiệu các bài thơ, nêu quan niệm về lòng yêu quê hương
II. Thân bài:
A. Tổng:
1. Khái quát nội dung lòng yêu quê hương qua các bài thơ
2. Thế nào là yêu quê hương?
B. Phân:
1. Những biểu hiện của lòng yêu quê hương
2. Phê phán quan niệm chật hẹp về lòng yêu quê hương
C. Hợp:
1. Tổng quát lòng yêu quê hương - đất nước
2. Liên hệ bản thân, rút ra bài học
III. Kết bài:
Ý nghĩa lòng yêu quê hương
Bài viết:
Đã có thời trong xã hội chúng ta quan niệm một cách đơn giản về lòng yêu quê hương chỉ gắn với tình cảm công dân, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc. Vì vậy những bài thơ lãng mạn trong phong trào Thơ Mới được xem là tiếng nói tình cảm cá nhân ủy mị, tiêu cực. Tuy nhiên, cùng với những thành quả đổi mới đất nước, những tác giả tác phẩm lãng mạn được đưa vào trong chương trình phổ thông. Tiếp xúc với các tác phẩm của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Anh Thơ, chúng ta chợt nhận ra lòng yêu quê hương có nội dung phong phú đa dạng hơn nhiều.
            Những bài thơ gắn với tiếng nói cá nhân vẫn ẩn bên trong một tình cảm yêu nước kín đáo, bộc lộ qua tình yêu với con người, cảnh vật, quê hương. Hình ảnh quê hương đất nước hiện lên trong các bài thơ đem lại những cảm nhận rất riêng nhưng lại rung cảm bao thế hệ độc giả. Một địa danh thôn Vỹ đi vào nỗi nhớ, gắn kết ân tình với xứ Huế trong Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử, làm ta yêu hơn cái trong trẻo  nắng hàng cau, cái huyền ảo của bến sông Trăng, cái bâng khuâng sương khói mờ nhân ảnh của mảnh đất cố đô. Không gian của buổi chiều thu cho đôi lứa tìm đến nhau trong Thơ Duyên cũng khiến ta cảm nhận sắc thái thiên nhiên hoà hợp quấn quít trên cây cỏ, chim muông, trên con đường nhỏ nhỏ, sắc nắng trở chiều, màu mây biếc và bâng khuâng với “con cò trên ruộng cánh phân vân”. Ta ngỡ ngàng khi phát hiện những vui buồn của con người gửi cả vào trong sắc thái mùa thu ở Đây mùa thu tới, một rặng liễu, một sắc “áo mơ phai dệt lá vàng”, “nàng trăng tự ngẩn ngơ”, những hình ảnh mùa thu rất quen và rất lạ được nói lên qua hồn thơ say đắm của Xuân Diệu. Quê hương còn hiện lên qua nỗi buồn mang tầm vóc vũ trụ, của chàng thi sĩ Huy Cận đứng trên quê hương mà vẫn cảm thấy “thiếu quê hương”, chuyển tải bao tâm sự nỗi niềm của người dân mất nước, khi đối diện Tràng giang: nỗi “sầu trăm ngả” lan toả trên sóng nước, con thuyền, cành củi, cánh bèo, “sông dài trời rộng bến cô liêu” kết lại thành nỗi niềm “lòng quê dợn dợn vời con nước – không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi dậy tình yêu giang sơn Tổ quốc. Quê hương còn đẹp giản dị trong Chiều xuân của Anh Thơ, làng quê Việt Nam đẹp một cách nao lòng trong cỏ xanh, mưa xuân, đàn bò đủng đỉnh, cô yếm thắm…qua những rung cảm trong trẻo của tâm hồn thiếu nữ. Tất cả những bài thơ ấy viết về con người, cảnh vật, làng quê…đều gặp nhau ở một điểm: tình cảm yêu nước kín đáo.

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2009

Vài lời về bài viết của ông Hoàng Tiến

Tôi đã đọc kỹ bài viết của thầy Nguyễn Đăng Na và bài phản biện của ông. Với những lý lẽ ông đưa ra nhằm quy chụp PGS.TS Nguyễn Đăng Na, với dụng ý chứng minh cho những lời mạt sát không thương tiếc của ông với một người làm khoa học, tôi chỉ là một giáo viên bình thường đang dạy cho học sinh THPT cảm thấy khó mà chấp nhận nổi! Hơn nữa lối trích dẫn đầy ác ý của ông khiến cho ai chưa đọc bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Na dễ bị dẫn dụ theo ngôn từ đóng mác “nhà văn”, trong đó có những biện minh theo tôi là mang tính ngụy trá và hồ đồ. Nên có vài lời thưa cùng ông!
Trước hết cần xác định lại cho ông tinh thần thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm theo lời của Phan Huy Chú được dẫn trong sách giáo khoa: “Văn chương ông tự nhiên nói ra mà thành, không cần gọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời”. Lại nhắc thêm cho ông một điều cũng được ghi lại trong sách giáo khoa lớp 10: “Làm quan được tám năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin chém mười tám kẻ lộng thần. Không được chấp thuận, ông bèn xin thôi làm quan và về sống ở quê nhà.” (tr.170) và “Tuy ở ẩn nhưng ông vẫn thường được vua nhà Mạc vời đến triều tham gia chính sự” (tr.171). Phải nói rõ như vậy vì những kiến thức trong phần Tiểu dẫn không phải ngẫu nhiên đưa ra mà để cho học sinh có hướng tiếp cận đúng con người của Nguyễn Bỉnh Khiêm. “Chí để ở sự nhàn dật” thế nhưng cái gọi là nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là thân nhàn mà tâm không nhàn!
Bàn lại với ông về cách tiếp cận Nguyễn Bỉnh Khiêm, trước hết tôi muốn chỉ cho ông thấy ông tự mâu thuẫn với chính mình, khi thừa nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm “là bậc thầy nho, y lý, số” nghĩa là điển hình cho kẻ sĩ mẫn tiệp và cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm “cứ gì phải bám vào ai,. Thế mà sau đó ông khẳng định luôn với ý chê trách: “Thời xưa, kẻ sĩ luôn miệng Khổng tử viết, Mạnh tử viết…”. Ô hay! Vậy thì ông xếp Nguyễn Bỉnh Khiêm vào vị trí nào? Chả lẽ nói cụ dân dã thì tước luôn vị thế kẻ sĩ, cho cụ làm nông dân cho tiện việc bình bậy của ông hay sao? Hay chẳng qua ông muốn mượn cụ Trạng Trình để tiện việc chửi xéo cái mà ông gọi là “tư tưởng nô lệ nước ngoài”(không biết ngày xưa ông có tuyệt đối không trích dẫn ông Ốp, ông Ép, ông Mao, ông Chu khi viết không? Tôi không phải là ông nên tôi không biết!)
Cái tinh tế của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là ở chỗ đàng sau lời nói giản dị tự nhiên là sự uyên thâm của bậc túc nho đấy! Bám sát văn bản theo kiểu của ông thì chỉ sa vào bình tán, hiểu ngô nghê văn bản mà thôi! Cách hiểu Một mai, một cuốc, một cần câu trong bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Na xuất phát từ mục đích muốn tầm nguyên tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, không phải là không có lý, đặc biệt là ý liên hệ với bài Trúc can trong Kinh Thi mà ông đã tảng lờ không trích: “Hai câu đầu cô gái hát “Địch địch trúc can, Dĩ điếu vu Kì” nghĩa là “Cành tre dài von vót, để câu ở sông Kì”. Đấy là cần câu để câu, chứ không phải là công cụ lao động để bắt cá” (TCHN – tr.70). Còn ông khăng khăng bắt cụ Trạng phải thành một nông dân thứ thiệt và xuyên tạc ý về cần câu trong bài viết của thầy Na là “một cách thức tự giới thiệu mình để bậc quân vương để mắt tới”. Một sự xuyên tạc với tâm địa không minh bạch, vì ý nghĩa của những vui thú mà Nguyễn Bỉnh Khiêm hướng tới được PGS.TS Nguyễn Đăng Na nói rõ “Vui thú mà Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn là, tự tại ung dung, một mình - chỉ một mình tôi - giữa đất và trời; không làm bề tôi đội đầu Thiên tử, cũng chẳng làm bạn với các chư hầu vì họ đang đội Thiên tử trên đầu; tự đào giếng mà lấy nươc uống; tự cầy cấy mà lấy thứ ăn; câu chẳng cần mồi, chẳng lưỡi câu mà các bậc thánh hiền như Vũ vương tự tìm đến Khương Tử Nha” (tr.70). Viết như vậy là rõ ràng, thể hiện được cái chí của Nguyễn Bỉnh Khiêm không muốn mắc vào vòng danh lợi, không cúi luồn mà vẫn đau đáu tấm lòng muốn giúp nước.
Ông Hoàng Tiến lấy Nguyễn Khuyễn để so sánh với Nguyễn Bỉnh Khiêm để nhấn mạnh “Không được cá cũng không sao. Di dưỡng tinh thần là chính” thì hiểu quá đơn giản cả Nguyễn Bỉnh Khiêm lẫn Nguyễn Khuyến! Nghĩa là ông trói hai ông ở hai thời đại khác nhau, hai tâm trạng khác nhau để làm cái việc vô tính hoá hai ông, minh hoạ nhàn nhạt cho cái thuyết “độc thiện kỳ thân” của nhà Nho! Cả hai cụ tầm lớn hơn thế nhiều, ông nhà văn nói thế, các cháu học sinh non nớt không khéo nghĩ hai cụ đại nho này đều về quê làm nông dân cày sâu cuốc bẫm, câu cá kiếm cơm thì cơ khổ cho hai cụ.
Ông Hoàng Tiến còn tỏ ra hồ đồ và vội vàng, khoe kiến thức, dẫn giải cho PGS.TS Nguyễn Đăng Na về hình nhi hạ, hình nhi thượng. Rồi mách nước có 11 chữ giá… cũng không ngoài mục đích tự tôn ông lên, mạt sát người khác một cách lố bịch, mà chẳng có gì mới mẻ hơn. Ông không buồn để ý đến lập luận trong bài viết, mà chăm chăm lọc tỉa ý để bóp méo theo cách hiểu của ông. Bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Na lưu ý rõ tính “nhất khí” của thơ Đường luật, để bàn về mối liên hệ giữa phần Mở và phần Luận của bài thơ. Ông thì chăm chăm “bám sát văn bản” để xuyên tạc, mà không nhận thấy dụng ý bình chữ giá trong tổng thể bài viết đã nói rõ. Mà không hiểu hoặc cố tình không hiểu thì cũng đừng tán dương những cách hiểu bình tán (bản thân nhà thơ Xuân Diệu tán hay nhưng nhiều khi đi quá xa văn bản, dẫn đến hiểu sai!). Một bài nghiên cứu sâu mang tính chuyên ngành như bài của PGS.TS Nguyễn Đăng Na thì ông nên nghiền ngẫm kỹ rồi hãy phản bác, nó mới thật sự tôn ông lên, còn vì trái ý mình, đọc phải những lời trong bài viết mà ông cảm thấy bị chạm nọc, vội vàng giãy nảy lên và cho người khác là tâm thần thì tôi thấy ông là người dễ nổi nóng vô cớ quá ông nhà văn ạ! Kẻ dốt này đọc bài viết của bậc thầy như Nguyễn Đăng Na sáng ra nhiều điều, tự nhủ phải biết dẹp tự ái vặt hay cao đạo để khôn lên. Còn chân lý khoa học, tư cách nhà nghiên cứu thì không phải vì mấy lời mắng mỏ của ông nhà văn mà bị bóp méo, bị hạ thấp! Dù cho lời ấy có đăng trên website của Hội nhà văn cũng chẳng làm sang thêm cho ông, bởi một người đáng trọng như PGS.TS Nguyễn Đăng Na không có thì giờ để đọc những lời bậy bạ. vô văn hoá như thế!
Trung ngôn nghịch nhĩ, tôi có vài lời hóng hớt vậy thôi, ngỏ vài lời trên ÔNG MẠNG, may ra ông có đọc và mắng thêm vài câu cũng chả sao!
Lãng tử Trần Nam

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2009

Giọng điệu tranh luận của một nhà văn!

(Nhân bài được đăng trên mạng của một ông nhà văn dùng những lời mạt sát đích danh cá nhân PGS.TS Nguyễn Đăng Na về bài nghiên cứu " VỀ BÀI THƠ NÔM SỐ 79 CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM" - Tạp chí Hán Nôm số 4/2009).
Trước hết, tôi xin nói ngay rằng mục đích của bài viết ông nhà văn nọ là thiếu đàng hoàng minh bạch, vì nếu là tranh cãi học thuật thì đăng lên ngay Tạp chí Hán Nôm và nếu xuất phát từ mục đích khoa học thì ít ra cũng phải kiên nhẫn chờ đọc hết các luận điểm trong bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Na. Vậy mà ông lại đưa lên một tờ báo không mang tính học thuật để chỉ trích. Bản thân tờ báo này nếu như muốn "rộng đường dư luận" một cách quang minh chính đại thì phải đăng bài của PGS.TS Nguyễn Đăng Na trước rồi mới đăng ý kiến của ông nhà văn nọ sau! Còn phê phán theo kiểu trích dẫn thì chân lý khoa học dễ bị bóp méo!
Điều thứ hai, khi giật tít cho bài báo của mình là BÌNH LUẬN KHÔNG NÊN ĐI QUÁ XA TÁC PHẨM, bài viết của ông lập tức được truyền đi trên mạng với những cái tít khác nghe kêu hơn, giật gân hơn và ...vô văn hoá hơn, thành ra chuyện Nhà văn mắng Phó giáo sư tiến sĩ! Có lẽ Nhà văn này phải to lắm, chuẩn mực lắm mới mắng mỏ như thế! Ai đáng mắng đây?
Thứ ba, xin bàn về giọng điệu bài viết của ông nhà văn!
Ông làm cái việc cắt xén, trích dẫn nhằm xuyên tạc dụng ý bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Na, để đi đến cái kết đầy tính răn dạy "Bình luận cho phải lý, không nên đi quá xa tác phẩm, không nên chỉ để khoe kiến thức". Nhưng cái đáng phẫn nộ trong lời lẽ của ông nhà văn  nọ là giọng điệu phản khoa học, khi kết tội "Ông Na hoặc là người cuồng chữ, loạn chữ, hoặc là người tâm thần ở dạng vĩ cuồng. Coi thiên hạ bằng nửa con mắt.". Xin thưa với ông: những người có học không ai lấy giọng kẻ cả trịch thượng như ông để xúc phạm danh dự cá nhân một cách nặng nề như vậy! Trong khi say sưa chứng minh cho ý kiến của mình, ông nhà văn trích dẫn và bình chú bằng một lối văn hạ sát đối phương một cách hể hả! Thế nhưng, ông đã cố tình quên không trích luôn lời kết trong bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Na - một ý kiến thể hiện rõ sự khiêm tốn cần thiết của một người làm khoa học: "Đây là hai vấn đề mà chúng tôi đã trình bày. Nếu chúng tôi có viết gì sơ xuất, rất mong các độc giả chỉ giúp và lượng thứ". Bởi lẽ đơn giản, khi ông muốn hạ thấp nhân cách khoa học của người khác, trích dẫn câu này của PGS.TS Nguyễn Đăng Na thì ông không có cớ gì để chua thêm nhưng lời bình đầy dụng ý khi xuyên tạc giọng văn của người nghiên cứu. Nào là: "Rõ ra giọng điệu cao ngạo, khinh đời. Nói nôm na là: Các anh ngu lắm. Thôi thì, (hãy giỏng tai lên) mà nghe ta giảng giải cho biết thế nào là cái cần câu.", nào là : "Có nghĩa là: Tôi không buồn nói nữa, vì các anh quá dốt. ". Có lẽ tôi trích như thế là quá đủ để thấy ông nhà văn nọ đã hằn học như thế nào, dường như chính ông đang bị xúc phạm (mà bài viết thì chủ yếu nói về nội dung bài thơ, đưa ra thêm một cách hiểu, không động chạm đến bất cứ một vị GS, TS, hay Nhà Văn khả kính nào!).
Bản thân tôi là một người giảng dạy văn THPT, khi được đọc bài nghiên cứu của bậc thầy Nguyễn Đăng Na, đã vỡ lẽ ra rất nhiều ý để có thể giảng một cách thích hợp với đối tượng học sinh, bổ khuyết thêm những điều còn lỗ mỗ! Một bài nghiên cứu như thế, đăng trong một Tạp chí nghiên cứu thì có gì sai, nhất là khi tác giả viết với một tinh thần cầu thị khoa học? Để đi đến chân lý, cần có những tranh luận mang tính khoa học, nhưng không phải với giọng chỉ trích cá nhân, xúc phạm đến một bậc thầy khả kính như PGS.TS Nguyễn Đăng Na. Còn Sách giáo khoa phân ban, có nhiều vị cùng tham gia soạn, nhưng đã thật sự làm hết trách nhiệm chưa? Những sai sót ấy, một người dốt như tôi cũng nhận thấy nhiều điểm bất hợp lý, nên thầy Nguyễn Đăng Na có bất bình thì không phải là không có lý!
T.H.N
(Nguồn các bài viết liên quan được trích dẫn, xin mời qua trang http://nguyenxuandien.blogspot.com tham khảo. Cảm ơn TS. Nguyễn Xuân Diện đã đưa thông tin hai chiều)
CÁC BÀI VIẾT VỀ CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN CỦA TÔI:
BÀI 1 http://tranhanam.vnweblogs.com/post/3463/58265
BÀI 2 http://tranhanam.vnweblogs.com/post/3463/59115
BÀI 3 http://tranhanam.vnweblogs.com/post/3463/59217

Ông Hoàng Tiến có biết giai thoại này không?

tranlangtu | 13 November, 2009 18:35

Tôi đọc bài viết của ông được đưa lên nhiều trang blog, có bài nhan đề là "Nhà văn Hòang Tiến mắng PGS.TS NĐN". Lại thấy có nhiều người vốn nồng nhiệt chê trách nền học thuật Việt Nam đã vội vàng tung hô bài viết hồ đồ của ông. Tôi không định tranh luận với ông, vì nghĩ tầm cỡ một PGS.TS còn bị ông "mắng" thì chắc gì ông đã nghe vài lời thưa lại của một kẻ vô danh tiểu tốt như tôi!
Nhưng có cái tôi rành mà ông lại nói ẩu quá, ông tung hô ông mạng (Internet) quảng bác nhất, làm tôi không thể nín cười! Mạng cũng là sản phẩm của con người thôi, thưa ông! Và trên đó có kim cương, vàng bạc đá quý nhưng cũng không ít hàng giả, hàng kém và có cả cóc nhái rác rưởi nữa! Ông nói thế thì e rằng có ngày ông ngộ độc mạng mất thôi.
Không dám ngồi bàn chuyện với ông, chỉ xin chép lại một câu chuyện trên mạng để ông đọc và ngẫm chơi, vì ông tôn sùng ÔNG MẠNG, ông ngẫm ra cái gì thì tùy ông, vì tôi không phải là ông để buộc ông phải nghĩ ra ý tứ trong câu chuyện. Gọi là ôn cố tri tân một chút:

Giữa Vương An Thạch và Tô Thức có một giai thoại lý thú.
Tô Đông Pha đọc thơ của Vương An Thạch, thấy có hai câu:
Minh nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm
Đông Pha chê là vô lý: trăng sáng sao lại hót ở đầu núi, chó vàng sao lại nằm trong lòng hoa được?
Do nghĩ như vậy nên Đông Pha lấy bút sửa chữ khiếu ra chữ chiếu, sửa chữ tâm thành chữ âm, thành ra:

Minh nguyệt sơn đầu chiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa âm

Trăng sáng soi đầu núi
Chó vàng nằm dưới hoa
Sau đó, Tô Đông Pha bị đổi tới một nơi ở phía nam. Ở đó, Đông Pha thấy một loài chim tên là Minh nguyệt, và một loài sâu tên là Hoàng khuyển. Lúc đó, Đông Pha nhớ lại hai câu thơ của Vương An Thạch, có nghĩa là:
Con chim Minh nguyệt hót ở đầu núi
Con sâu Hoàng khuyển nằm giữa đóa hoa
Lúc ấy Đông Pha mới biết kiến thức của mình còn kém họ Vương nhiều.
(http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%C6%A1ng_An_Th%E1%BA%A1ch)

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2009

Những hình ảnh tư liệu về Hàn Mặc Tử

Hình ảnh tư liệu về Hàn Mặc Tử, chụp tại Quy Hoà (Quy Nhơn) trong nhà lưu niệm Hàn Mặc Tử;


Cuối cùng cũng đã có bằng

Bão số 9 làm mình không đi Hà Nội lãnh bằng được. Trầy trật mãi rồi nhờ được chú Bang tận tình giúp mà giờ có bằng trong tay rồi. Trông cũng oách ra phết!

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2009

Quy Nhơn trong ngày bão

Quy Nhơn trong ngày bão
Buổi sáng mới hơn 5 giờ, học trò đã réo điện thọai: thầy ơi, có đi học không? Nhìn chung mình cũng mù tịt. 6 giờ hơn gọi xuống cho sếp. Nghỉ. Ở nhà lo chằng chống nhà cửa, nhà mình xập xệ quá rồi, đến nay 13 năm cũng chưa sửa sang gì nhiều, ngòai việc thay mái tole. Vợ vẫn phải đi làm, mình chuẩn bị ăn sáng thì điện thoại từ trường gọi xuống chống bão. Đi ra đường, gió bắt đầu nổi, mưa lớn. Khi đang họp thì gió bắt đầu có cơn giật mạnh. Ngôi trường rùng mình. Cây xà cừ phía sau bãi cỏ bị đổ. Chằng chống buộc cửa các phòng xong thì lo chạy về, trời có vẻ êm. Ngòai biển, sóng cồn trắng xóa, bụi nước mịt mù.
Bão vào đã giảm cấp xuống còn 9 -10, vậy là cũng đỡ lo, nhưng gió tạt vào nhà cũng ướt cả nền. Sướng nhất là không cúp điện, nên vẫn có thể theo dõi thông tin và lên net. Ăn cơm trưa xong thì gió rít ầm ầm, nhà đóng kín mít, thỉnh thoảng lại rùng rùng trên mái nhà. Tường nhà mình nứt nên bị ngấm sơ sơ. Chưa biết khi nào thì mới sửa hay xây lại nhà được?
Chiều nay lại có giỗ nhà anh bạn mời. Ở trường chị Điệp còn đi ăn đám cưới. Cưới nhau ngày bão, cơ khổ!
Hy vọng không có nhiều thiệt hại cho Bình Định.