Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Nghị luận xã hội: Yêu quê hương


LẬP DÀN Ý VÀ BÀI VIẾT CHO ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG NGỮ VĂN 11   
Đề 3: Từ các bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Đây mùa thu tới, Thơ duyên, Tràng giang, Chiều xuân…hãy viết bài văn trình bày quan niệm của anh (chị) về lòng yêu quê hương
DÀN Ý :
I. Mở bài: Giới thiệu các bài thơ, nêu quan niệm về lòng yêu quê hương
II. Thân bài:
A. Tổng:
1. Khái quát nội dung lòng yêu quê hương qua các bài thơ
2. Thế nào là yêu quê hương?
B. Phân:
1. Những biểu hiện của lòng yêu quê hương
2. Phê phán quan niệm chật hẹp về lòng yêu quê hương
C. Hợp:
1. Tổng quát lòng yêu quê hương - đất nước
2. Liên hệ bản thân, rút ra bài học
III. Kết bài:
Ý nghĩa lòng yêu quê hương
Bài viết:
Đã có thời trong xã hội chúng ta quan niệm một cách đơn giản về lòng yêu quê hương chỉ gắn với tình cảm công dân, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc. Vì vậy những bài thơ lãng mạn trong phong trào Thơ Mới được xem là tiếng nói tình cảm cá nhân ủy mị, tiêu cực. Tuy nhiên, cùng với những thành quả đổi mới đất nước, những tác giả tác phẩm lãng mạn được đưa vào trong chương trình phổ thông. Tiếp xúc với các tác phẩm của Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Anh Thơ, chúng ta chợt nhận ra lòng yêu quê hương có nội dung phong phú đa dạng hơn nhiều.
            Những bài thơ gắn với tiếng nói cá nhân vẫn ẩn bên trong một tình cảm yêu nước kín đáo, bộc lộ qua tình yêu với con người, cảnh vật, quê hương. Hình ảnh quê hương đất nước hiện lên trong các bài thơ đem lại những cảm nhận rất riêng nhưng lại rung cảm bao thế hệ độc giả. Một địa danh thôn Vỹ đi vào nỗi nhớ, gắn kết ân tình với xứ Huế trong Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử, làm ta yêu hơn cái trong trẻo  nắng hàng cau, cái huyền ảo của bến sông Trăng, cái bâng khuâng sương khói mờ nhân ảnh của mảnh đất cố đô. Không gian của buổi chiều thu cho đôi lứa tìm đến nhau trong Thơ Duyên cũng khiến ta cảm nhận sắc thái thiên nhiên hoà hợp quấn quít trên cây cỏ, chim muông, trên con đường nhỏ nhỏ, sắc nắng trở chiều, màu mây biếc và bâng khuâng với “con cò trên ruộng cánh phân vân”. Ta ngỡ ngàng khi phát hiện những vui buồn của con người gửi cả vào trong sắc thái mùa thu ở Đây mùa thu tới, một rặng liễu, một sắc “áo mơ phai dệt lá vàng”, “nàng trăng tự ngẩn ngơ”, những hình ảnh mùa thu rất quen và rất lạ được nói lên qua hồn thơ say đắm của Xuân Diệu. Quê hương còn hiện lên qua nỗi buồn mang tầm vóc vũ trụ, của chàng thi sĩ Huy Cận đứng trên quê hương mà vẫn cảm thấy “thiếu quê hương”, chuyển tải bao tâm sự nỗi niềm của người dân mất nước, khi đối diện Tràng giang: nỗi “sầu trăm ngả” lan toả trên sóng nước, con thuyền, cành củi, cánh bèo, “sông dài trời rộng bến cô liêu” kết lại thành nỗi niềm “lòng quê dợn dợn vời con nước – không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” gợi dậy tình yêu giang sơn Tổ quốc. Quê hương còn đẹp giản dị trong Chiều xuân của Anh Thơ, làng quê Việt Nam đẹp một cách nao lòng trong cỏ xanh, mưa xuân, đàn bò đủng đỉnh, cô yếm thắm…qua những rung cảm trong trẻo của tâm hồn thiếu nữ. Tất cả những bài thơ ấy viết về con người, cảnh vật, làng quê…đều gặp nhau ở một điểm: tình cảm yêu nước kín đáo.
            Từ những bài thơ ấy, ta chợt hiểu ra yêu quê hương trước hết phải là yêu thương gắn bó với mảnh đất – con người quê hương, biết rung động trước những vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, vui buồn với vận mệnh dân tộc. Tình yêu quê hương bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt hàng ngày, những tình cảm đôi lứa, tình yêu sự gắn bó với gia đình, làng quê, đó là tình cảm trong sáng nhất, cao cả và góp phần làm thanh lọc tâm hồn con người. Đó cũng là tình cảm gắn kết cá nhân với cộng đồng, tạo nên sự đồng cảm, sự lắng đọng sâu sắc và thường trực trong trái tim con người. Chính sự gắn kết ấy làm nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, thành ý chí bất khuất, sức mạnh chiến đấu, quyết tâm bảo vệ đất nước, đánh đuổi ngoại xâm, ý thức xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
            Nếu chỉ hiểu đơn giản yêu quê hương là tình cảm công dân, với ý thức trách nhiệm đặt lên hàng đầu mà không quan tâm giáo dục tình yêu ấy bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt thì tâm hồn con người sẽ trở nên chai sạn biết bao. Chưa kể rằng, có những kẻ hô hào khẩu hiệu, nhưng thực tế lại sống giả tạo. Không thể yêu đất nước, yêu dân tộc mà không xuất phát từ tình cảm yêu mến, gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn, gia đình, làng xóm, yêu những con người gần gũi quanh ta. Đúng như Tố Hữu nói: “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt – Như mẹ cha ta, như vợ như chồng”, mở rộng ra tình cảm ấy còn là tình yêu đôi lứa, là cơ sở để “người yêu người, sống để yêu nhau”. Tình yêu ấy không hẳn chỉ thể hiện qua hành động đứng lên đánh lại kẻ thù, mà trước tiên phải xuất phát từ nỗi đau buồn khi nước mất nhà tan, nỗi uất nghẹn khi quê hương bị kẻ thù giày xéo. Không thể có tình yêu dân tộc chung chung nếu không xuất phát từ tình yêu con người cụ thể. Từ nhận thức đến tình cảm, từ suy nghĩ đến hành động luôn thường trực tình cảm yêu quê hương đất nước.
            Bản thân mỗi học sinh chúng ta cũng phải luôn xác định quan niệm đúng đắn về lòng yêu quê hương, bằng cách luôn trau dồi tu dưỡng những tình cảm nhân văn, phải sống đẹp với mọi người, biết rung động trước cái đẹp cuộc sống  quanh ta. Khi còn là học sinh, biết yêu mến con người và mảnh đất mà ta đang sống, đang tiếp xúc hàng ngày, biến tình cảm thành hành vi ứng xử hàng ngày, có mục đích, có hoài bão vun trồng tài năng để sau này cống hiến cho đất nước, thiết tưởng cũng là ươm mầm cho lòng yêu quê hương đất nước ngày càng phát triển bền vững hơn.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

Hình ảnh kỉ niệm cùng gia đình Áo Trắng


Tham dự lễ ra mắt tập Thơ tình duyên hải miền Trung tại Phú Yên và giao lưu Gia đình Áo Trắng Quy Nhơn với Đoàn Thạch Biền tại Bình Định

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2011

Ấn tượng Cần Thơ


Hình ảnh Cần Thơ trong chuyến dẫn học sinh đi thi học sinh giỏi Olympic toàn miền Nam tại Cần Thơ: đi du thuyền trên sông Hậu thăm chợ nổi và miệt vườn - vườn Mận!

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Với tôi, Trịnh Công Sơn...

Có lẽ tôi bắt đầu biết nghe nhạc Trịnh từ cuối thời phổ thông và suốt những năm tháng học Đại học. Tôi tự hào vì ông là sinh viên trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, vì vậy khi nghe những Biển Nhớ, Hạ Trắng...tôi cứ cố hình dung ông viết ở nơi nào trong khuôn viên của trường Đại học!

Cũng lạ, chẳng hiểu sao những năm 86 - 90 quán xá lại nhiều băng Khánh Ly hát đến thế, có điều thời đó còn nhầm lẫn khi Khánh Ly hát Trầm Tử Thiêng mà cũng nghĩ đó là Trịnh! Cũng phải thôi, vì chúng tôi đâu có sinh ra và lớn lên ở miền Nam, đâu có dịp tiếp xúc hết với gia tài của Trịnh. Còn nhớ ở Quán cà phê Kem - Biên Cương ngồi nghe và hình dung qua những ca khúc Da Vàng: "Đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi lắng nghe...", thương cho đất nước và con người Việt Nam phải chịu cảnh đạn bom khốc liệt quá lâu! Và cảm nhận nỗi đau của người nghệ sĩ qua lửa đạn chiến chinh!

Còn nhớ những khoảnh khắc hàng giờ liền ngồi thiền nghe nhạc Trịnh, cảm nhận qua màn mưa những lời thủ thỉ "...mưa vẫn mưa bay qua miền đất rộng - Ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau..."! Nhạc Trịnh nghe vào những ngày mưa buồn thật, nhưng lại thấy lòng trong trẻo lạ! Có khi đi chơi vào Gành Ráng hay Quy Hòa, gặp hôm nắng đẹp là lại nghêu ngao: "Gọi nắng, trên vai em gầy, đường xa áo bay, nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say..."

Rồi mưu sinh mỏi mệt, thành công và thất bại trong cuộc sống cũng nhiều, lại tìm đến Trịnh như một nguồn an ủi, như tìm chút động viên. Còn nhớ, khi trải qua cảm giác ê chề vì bị sỉ nhục (dù rằng là thông tin sai), cả một đêm nghe đi nghe lại không chán bài hát "Tôi ơi, đừng tuyệt vọng" qua giọng ca của chính ông, và nhận lời an ủi của anh bạn cùng trường đang học bên kia bờ đại dương, thấy lòng vơi phiền muộn rất nhiều. Và như phép màu, qua 1 giờ đêm, từ nỗi tủi nhục biến thành niềm hạnh phúc vô bờ khi thông tin được đính chính. Lại có cảm giác Trịnh như đã đến bên mình, dịu nhẹ vỗ về...

Và còn bao lần nghe Trịnh, trong cảm giác lòng thắt lại vì thương những cảnh ngộ thiệt thòi, những số phận trớ trêu. Lúc ấy, lại vang lên lời hát như nhắn nhủ: "Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi..."

Vâng, để gió cuốn đi....

Thấm thoắt đã 10 năm. Ngày ấy, ngồi tại trường, đúng ngày Cá tháng Tư, đọc tin trên báo cứ ngỡ ngàng sửng sốt như một trò đùa. Tạo hóa thật nghiệt ngã chọn đúng ngày Cá để đón Trịnh về...Đến nỗi, khi đưa thông tin nóng lên mạng home.vnn.vn mình còn bị mắng: đùa gì mà ác thế! Và hơn 10 ngày sau, khi có mặt tại Sài Gòn, mình đã đến quán Sài Gòn Xanh dự một đêm tưởng niệm Trịnh thật đặc biệt do nhóm bạn ở Quãng Ngãi tổ chức. Hôm đó, đã hát như lên đồng liên khúc "Cát Bụi - Tình Xa", dù còn có chút vấp váp nhưng cũng đủ cho cảm nhận nỗi bàng hoàng: Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi, cát bụi mệt nhoài, mặt trời soi một kiếp rong chơi(...) Bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi, lá úa trên cao rụng đầy, cho trăm năm vào chết một ngày (...) Ngày tháng nào, đã ra đi khi ta còn ngồi lại, cuộc tình nào đã lên khơi ta còn mãi nơi đây. Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mê...

Thấm thoắt đã 10 năm, nhạc Trịnh vẫn còn làm ta nhớ bao ngày tháng đã đi qua, dù cho "mệt quá đôi chân này, tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi". Nhạc Trịnh vẫn vang ngân, "dù vắng bóng ai, dù vắng bóng ai..."

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Thơ Trần Hà Nam treo tại Nhạn Tháp (Phú Yên)


Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện đi Phú Yên dự ngày thơ, đã chụp được bài thơ treo trên đường lên núi Nhạn Tháp của Trần Hà Nam! Một kỉ niệm đẹp và anh đã gửi cho tôi những bức ảnh này!
Ảnh 1: Bài thơ SEN VÀ BÙN
Ảnh 2: Nhạc sĩ Nguyễn Gia Thiện bên bài thơ trên đường lên núi Nhạn


Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

LẠM BÀN VỀ PHẦN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC TRONG ĐỀ THI HSG QUỐC GIA NGỮ VĂN 2011


Đề cho : Mỗi hình tượng nhân vật phụ nữ thực sự thành công bao giờ cũng là kết quả của sự phát hiện sâu sắc về nữ tính. Và yêu cầu phân tích một số tác phẩm từ VHDG đến văn học hiện đại để làm sáng tỏ nhận định. Một đề văn như thế này, xác định rõ khái niệm đã đổ máu mắt, huống chi phải làm một tập hợp từ cả hai bộ phận văn học, phải làm sao bao quát cả văn đến thơ, kịch... và phải giải quyết gói gọn trong khoảng thời gian nhiều nhất là 150 phút (bời lẽ câu NLXH 8 điểm cũng không thể viết dưới 30 phút được!) trong tổng thời gian 180 phút.
Thực ra khái niệm tính nữ trong văn chương đã râm ran từ những năm bắt đầu có sự chuyển mình, đổi mới văn học sau 1986. Tuy nhiên, nâng tầm lên một vấn đề có ý nghĩa lí luận thì lại không phải là dễ dàng. Chưa kể khái niệm về "nữ tính" như đề ra có đòi hỏi phải giới hạn trong văn học Việt Nam hay không? Nữ tính là vấn đề dân tộc hay vấn đề nhân loại? Nghĩa là ngay từ đầu phạm vi của đề ra đã không chuẩn mực. Bởi lẽ với học sinh giỏi chưa từng có giới hạn chỉ học phần Văn học Việt Nam, mà ngay trong các chuyên đề chuyên sâu cũng có học phần văn học nước ngoài. Nếu giới hạn trong phạm vi lí luận lại càng nên lấy các tác phẩm văn học nước ngoài làm chuẩn mực (điều này chắc chắn khỏi phải bàn cãi vì các học giả của chúng ta cho đến các nhà văn vẫn quen truyền thống lấy văn chương nước ngoài Đông Tây Kim Cổ làm chuẩn mực).
Còn ra đề kiểu chấp nhận cho các em nói chung chung, đại khái: thật sự thành công nghĩa là tác phẩm phải đạt đến giá trị Chân - Thiện - Mĩ... Nữ tính là tập hợp Công - Dung - Ngôn - Hạnh; phụ nữ phải là người bà, người mẹ, người vợ, người chị, người em gái, người tình... thì chắc chắn sẽ không tránh khỏi cách nhìn phiến diện. Còn đòi hỏi các em phải nắm vững các khái niệm "nữ tính", "mẫu tính" thì e rằng các em khỏi cần học Đại học làm gì mà học thẳng lên thạc sĩ, tiến sĩ!!! Còn trình độ phổ thông thì đưa ra khái niệm này quả thật giống như đánh đố nhau! Tôi dám đoan chắc ở 63 tỉnh thành, đưa đề này cho các giáo viên dạy chuyên cự phách làm, đố ai dám bảo đảm mình đã trình bày thật sự rõ ràng khái niệm "nữ tính", dám cam đoan chỉ qua "một số tác phẩm" từ VHDG đến VHHĐ mà làm "sáng tỏ nhận định" được! Và tôi cũng vui lòng làm một giám khảo chấm bài của học sinh nào đạt giải Nhất của kì thi lần này mà đạt điểm tối đa còn tồn tại vô số những lỗi kiến thức! Bởi lẽ toàn bộ những tiêu chí của đề đều không đạt đến chuẩn mực cần phải có của một đề mở.
Đề mở này có hai hướng giải quyết: theo hướng lấy hình tượng phụ nữ làm chuẩn thì phải bắt đầu từ khái niệm hình tượng văn học để hình thành tiêu chí cho hình tượng phụ nữ; hướng thứ hai là xem như một đề lí luận văn học, lấy cơ sở là hình tượng phụ nữ để làm rõ khái niệm nữ tính trong văn học. Nhưng dù giải quyết theo hướng nào thì cũng không trọn vẹn bởi lẽ yêu cầu phân tích để làm sáng tỏ không chuẩn! Nếu lấy điểm xuất phát là "Văn học dân gian" thì phải có mệnh đề tiếp theo là "đến Văn học viết" thì mới bảo đảm tính khái quát tổng hợp của đề. Còn yêu cầu như đề này thì dẫn chứng không thể là "một số" (được hiểu ngầm là từ 2 trở lên) mà bắt buộc phải có Văn học dân gian - Văn học hiện đại! Mà như vậy thì sẽ thiếu sức bao quát! Vì mỗi bộ phận văn học, mỗi khuynh hướng, mỗi trào lưu, mỗi giai đoạn văn học lại có những chuẩn mực riêng về nữ tính, không thể đánh giá toàn diện được! Chưa kể là dẫn chứng hoàn toàn có thể lựa chọn cả VHDG nước ngoài, VHHĐ nước ngoài (nàng Sita trong Ramayana hay Phăngtin trong đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền - Những người khốn khổ đều đạt đến phẩm chất của hình tượng văn học thật sự thành công!).
Một đề ra không chuẩn như vậy, sẽ không thể tìm ra những bài văn thực sự hay! Và người ra đề chưa đủ tầm bao quát và hình dung không nổi thực trạng học sinh giỏi Văn sẽ phải khổ sở như thế nào với kiểu đánh đố này!
Trần Hà Nam

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

HẠT BỤI NÀO...

            Không hiểu sao khi đọc xong tập thơ thứ ba của Võ Ngọc Thọ - Hạt Bụi và Hoa Quỳnh – tôi lại chợt nhớ lời hát của Trịnh Công Sơn: hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…, phải chăng vì cả hai hình tượng anh dùng đặt tên cho tập thơ này đều gợi về một cái gì rất nhỏ bé,mong manh, ngắn ngủi trong cảm nhận về sự sống, đời người?
            Từ bài thơ mở đầu đã mang theo ám ảnh về một đường tàu – định mệnh, dù rằng anh nói về một vấn đề lớn lao:
            Có vẻ như con tàu đã vào đúng đường ray độc nhất
            người lái tàu quá thuộc những lời răn

            Có vẻ như ga vắng khách
            mà người tiễn, nhân viên đường sắt thì đông

            Có vẻ như đoàn tàu đang bị lỗ
            nhưng những người ăn theo thì giàu sụ…
                                                (Có vẻ như…)
            Tôi nhận ra những bài thơ gần đây của Võ Ngọc Thọ thường bắt nguồn từ những quan sát cảm nhận hiện thực có phần gai góc và sù sì của đời sống, những suy ngẫm thơ cứ thế bật ra theo lối tự sự để chuyển tải những trăn trở hướng về đất nước, nhân dân. Những bài thơ làm với cảm hứng công dân thường không mấy khi dễ chịu và dễ dãi, vì còn quá nhiều những ưu tư cuộc sống đọng lại. Cũng là những hình tượng thơ trở thành  đối tượng chiêm ngưỡng, ca ngợi của thi ca nhưng Võ Ngọc Thọ lại ngẫm nhiều hơn đến nỗi đau, đến sự hy sinh lặng thầm, những mất mát trong phận người. Chẳng hạn một bài thơ ngắn viết về Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, anh kết bằng hai câu ray rứt:
            Đèn khuya  tuổi mẹ mỏi mòn
            Nén hương khói tạt khóc con đêm dài…
            Có một nhà thơ đã từng tuyên ngôn: “Tôi đứng về phe nước mắt!” giữa không khí thời đại hừng hực những khúc tráng ca. Bây giờ khi thơ đã thấm đẫm cảm hứng nhân văn, quan tâm hơn những vấn đề nhân sinh, ta lại gặp quá nhiều nước mắt! Võ Ngọc Thọ có độ tiết chế hơn trong tình cảm, trừ khi đó là nỗi đau của riêng anh, còn thơ anh đủ độ tỉnh táo để không có những giọt nước mắt cá sấu giả vờ yêu nước thương dân, ăn năn sám hối như một mốt thời thượng của những loại ngụy-thi-sĩ! Có thể đó là những giọt thơ rơi trong chiều mưa hay cảm hứng vào một ngày xuân cờ đỏ mai vàng, một suy ngẫm về lòng yêu nước không là đặc quyền của một tầng lớp, giai cấp phe phái nào cho đến trăn trở về thời gian có ich và mặc cảm vô tích sự, Võ Ngọc Thọ đã có thừa độ tỉnh để rạch ròi trong thái độ:
            Người hiền tài chơi gốc
            Có sẵn một kế sách an dân

            Kẻ gian nịnh chơi gốc
            Nuôi sẵn dã tâm hại dân bán nước…
                                    (Chơi gốc)
            Trong cảm hứng thơ kết hợp suy tư phận người và đất nước, Võ Ngọc Thọ đã có một bài thơ thật đời mà cũng rất giàu triết lý, những triết lý chắt lọc từ trải nghiệm nhân tình thế thái : Người đàn ông mài dao dạo. Tôi nghĩ đó cũng là cách anh hình dung về chính mình, về cái tạng thơ của mình:
            Không mài dũa
            đá vẫn cứ là đá
            dao cũ mòn bỏ đi

            Người đàn ông cắm cúi mài dao
như mài trên chính thân phận mình…
Trong Hạt Bụi và Hoa Quỳnh, Võ Ngọc Thọ dành nhiều đất cho tình yêu, đề tài muôn thuở! Tuy nhiên đó không phải là thứ tình yêu nồng nàn đắm đuối của tuổi hai mươi mà là tình yêu muộn mằn của một người nhiều trải nghiệm. Đó là tình yêu rất nồng nàn bền bỉ thách thức với thời gian, ấp ủ tự trong lòng, chạy đua với tuổi tác. Lớn hơn tình cảm nam nữ thông thường, đó là thái độ tôn vinh cái đẹp, trân trọng chút hương thầm đọng lại với đời:
Hoa rồi cũng úa tàn
sẽ thay bằng những bông hoa khác

Xuân về
tôi lại đem chiếc bình cũ ra dùng
nhớ những người đi qua…
còn gửi lại chút hương
                        (Chiếc bình hoa)
Có thể dễ dàng nhận ra sự trở lại của hình tượng hoa, một ám ảnh thường trực trong thơ Võ Ngọc Thọ từ những tập thơ trước: hoa mai vàng, hoa bằng lăng, hoa hồng, hoa hướng dương,những làn hương hoa, những dáng hoa … và anh làm người tỉ mẩn nhặt hoa và trò chuyện cùng hoa. Nên cái say trong tình yêu của Võ Ngọc Thọ là cái say của một người tình thầm lặng, chiêm ngưỡng mà không muốn chiếm đoạt sở hữu, nhiều hoài niệm nhiều bâng khuâng:
Tôi ngồi trong lặng lẽ
Bên bóng hoa mơ màng
Hương tình em sâu lắng
Chiều chợt buồn mênh mang…
                        (Hương…)
Anh gửi vào trong hoa một triết lý của người đã chạm vào ngưỡng lục thập hoa giáp của một đời . Thời gian càng hối hả, con người càng cần sống chậm để chiêm nghiệm giá trị đời người, như một tâm sự anh gửi gắm trong Thơ viết một ngày không vội vã:
Ngày không vội vã
ấy là ngày ngồi nghe biển tâm tình
nhìn sóng dào dạt vỗ bờ
rồi tan mau trong ly cà phê giọt chậm…
Trong nhịp thời gian chậm rãi ấy, anh đã chiêm nghiệm được rất nhiều vẻ đẹp và cả những mặt gai góc của đời, đã sống rất nhiều vai khác nhau: người công dân, người tình, người cha, người ông… Tôi không muốn nói nhiều thêm những bài thơ anh viết cho gia đình, cho Mẹ, cho Cha, cho con gái, cho cháu ngoại, vì đó là khi anh viết cho riêng mình bằng tất cả máu thịt và niềm kính ngưỡng, nỗi đau mất mát. Không cần bình và không thể bình những bài thơ ấy mà chỉ biết lặng lẽ cảm cùng anh.
Khép lại những cảm nhận vội vàng này, tôi xin được cùng anh đọc bài thơ, như một phản biện cho cảm nhận ban đầu của tôi:
Chẳng có hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
chỉ có thơ
và tình em
giúp tôi đứng dậy

Những đêm buồn
bạn cùng vầng trăng và hạt bụi
ơi, vô thường
nở đóa quỳnh thơm!
                        (Hạt Bụi và Hoa Quỳnh)
Vâng, đó là bức thông điệp nhẹ nhàng lắng đọng mà Võ Ngọc Thọ muốn gửi gắm cho chúng ta trong tập thơ này.
                                                                                    TRẦN HÀ NAM