Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Chào 2015

Chào 2015
Đứt cáp!
Bài thơ chưa kịp viết
Nước Pháp súng vang rền
Tiếng cười chưa kịp cất
Tiếng súng lấy mạng rồi!
Bóng góa phụ đen ám ảnh
Thế giới đầy âu lo.

Chào 2015
Lạnh ngắt!
Đà Lạt mù sương
Tôi-em trên cung đường dốc
Truyền hơi ấm đôi tay...
Quy Nhơn rả rích mưa bay
Một mình nằm queo
Nghe Thái Thanh - "Hoài cảm"...

Chào 2015
Mai lên lớp
Giảng nốt hình tượng
anh hùng T'nú
Mấy đứa học trò còn tin?

Thứ Ba, 24 tháng 12, 2013

GIÃ TỪ GIẤC MỘNG...

Đã lâu muốn viết điều gì đó, nhưng cứ đắn đo mãi về việc chọn lựa của mình. 
Thuở còn là cậu học trò, như bao đứa trẻ khác, từng mơ một giấc mơ làm thi sĩ nổi tiếng khi sang thế kỉ XXI, hồi ấy là một khái niệm có vẻ xa xôi và kì vĩ vô cùng! 
Rồi bắt đầu cuộc đời có những bước ngoặt, nhưng hồi đó vẫn tự tin vào khả năng của bản thân ghê lắm. Càng khổ, càng viết được nhiều, rồi một ngày sẽ hãnh diện vì người ta nhắc đến thơ văn của mình!
Niềm đam mê văn chương đầy khổ lụy vẫn chưa tắt, và lại có dịp bùng lên khi về lại nơi mình đã có thành công đầu tiên khi đạt giải Văn đứng đầu cả nước thời phổ thông. Có thầy dìu dắt, mình đã sống những ngày tháng thật Văn tại môi trường ấy.
Rồi bắt đầu ảo tưởng về bản thân khi nghĩ rằng mình giỏi.
Rồi lao vào những hoạt động văn chương không mệt mỏi. Cuối cùng thấy mình càng ngày càng...mệt mỏi và chán ngán với văn chương.
Có những người mình nghĩ hồn họ trong veo và chỉ có những vần thơ chân mộc, giàu tình đời tình người, nhưng rồi một hôm chợt bàng hoàng khi thấy hóa ra họ ...diễn! Thơ ca với họ chỉ là nhằm mục đích tầm thường, phong vương được rồi lại đòi phong thánh!
Có những người bạn, nhưng là đàn anh trong văn giới, sẵn sàng chứng tỏ cái tôi của mình một cách cực đoan. Nhưng rồi đến lượt mình lại trở thành một nạn nhân với lòng tổn thương sâu sắc do chính người bạn mình yêu quý gây ra. Hóa ra trang viết hay chưa chắc đã làm nên một con người tử tế hoàn toàn, theo cái nghĩa toàn vẹn nhất của nó. Dù có thể mai mốt lại cười xòa, lại ngồi bù khú với nhau, nhưng vết thương để lại sẹo khó lành ngày một ngày hai. Chưa bao giờ mình hiểu sâu sắc câu hát của Trịnh đến thế: "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng...để gió cuốn đi..."!
Ừ, gió hãy cuốn đi giùm ta giấc mộng văn chương phù phiếm...
Ừ, gió hãy cuốn đi giùm ta những muộn phiền vì văn chương giờ đã quá lạc lõng với nhân quần hỗn độn, giả tạo, quyết liệt ăn thua, và ngổn ngang trên văn đàn những thứ quái thai mệnh danh là...văn chương!
Văn chương, cần một cái tâm thật tĩnh để thẩm thấu, ấy vậy mà ta để cho tâm nhiều vọng động. Những mối lo cơm áo gạo tiền không làm ta nguôi niềm đam mê vẻ đẹp văn chương thì giờ đây lại là những chuỗi ngày không phải và không thể sống cho bản thân mình, mình chưa làm được gì tốt đẹp để nêu gương cho con cháu ngoài cái chức danh ông thầy.
Thầy cho ra thầy, khó thay!
Thôi, rời xa giấc mộng không tưởng làm một nhà văn nhà thơ "giang hồ khí cốt, phong nguyệt tình hoài" kiểu Tú Xương hay ngông ngạo kiểu Nguyễn Tuân, thâm trầm Nguyễn Khuyến đi! Các ông làm văn làm thơ thời đó, được người ta biết nhiều về nhân cách hơn đời, đâu chỉ là văn chương? Nam Cao lẳng lặng viết theo phương châm "Sống đã...hãy viết văn!". Bao tấm gương ấy, là ông thầy dạy văn mình chưa truyền thụ hết cho học sinh, vậy mà mộng mơ làm gì cái danh văn sĩ hão thời buổi này?
Bản chất của văn chương là sáng tạo. Mình đã sáng tạo được cái gì mới mẻ cho văn chương chưa? Hay như bậc tiền bối Nam Cao từng đau khổ khi lâm vào cảnh viết những chuyện rất nhạt, gợi những tình cảm rất nông, như một thứ cháo loãng, khiến mình cũng tự chán mình!
Văn chương phải chuyên tâm, mình thì không thể chuyên tâm chuyên chú cho văn chương toàn vẹn. Yêu nhau như thế bằng mười phụ nhau. Cầu mong có người toàn tâm toàn ý và có tâm có tài thật sự gánh vác những chuyện mà lâu nay mình đã bao đồng, đã làm trong ảo tưởng đóng góp cho văn nghệ tỉnh nhà!!! Điểm lại, thì chính mình đang dẫn dắt những hoạt động trong cương vị mình phụ trách vào lối mòn. Không hờn lẫy, không phải là ngoảnh mặt quay lưng với anh em, mà thật sự là do mình vốn bất tài trong văn chương.
Chuyên tâm làm một thầy giáo dạy Văn, vui với học trò, mừng thấy các thế hệ học trò trưởng thành, có chất Văn trong mọi lĩnh vực đời sống, vậy là vui rồi!
Làm người, ở một đất nước như Việt Nam, từ một dòng tộc đáng tự hào, sao mình lại không có cái mơ ước bình thường không cần màu mè khiêm tốn, nói như kiểu Nguyễn Công Trứ: "Phải có danh gì với núi sông". Mà ông nói vậy, đâu phải lưu danh thiên cổ bằng thơ văn đâu, mà bằng chính sự nghiệp góp cho nước nhà, cho lý tưởng sống của mình! Mà sống ung dung khi thoát vòng danh lợi. Sao không học theo?
Từ nay, giã biệt mọi chuyện bao đồng, dồn tâm trí nhiều hơn cho nghề nghiệp, cho trường lớp.
Ngâm câu thơ sảng khoái của Uy Viễn tướng công mà tự dặn lòng:
ĐƯỢC MẤT DƯƠNG DƯƠNG NGƯỜI TÁI THƯỢNG
KHEN CHÊ PHƠI PHỚI NGỌN ĐÔNG PHONG...

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

SƯU TẦM: KHO SÁCH NÓI - HẠT GIỐNG TÂM HỒN

http://www.khosachnoi.net/2012/08/truyen-audio-hat-giong-tam-hon-tron-bo.html#ixzz29TjiL38v

19-08-2012

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

Suy nghĩ về tuồng hát bội của cụ Tú Nhơn Ân


1. Tổng quan về nghiên cứu Nguyễn Diêu và kịch bản tuồng
            Cụ Tú Nhơn Ân là cách gọi tôn kính dành cho cụ Nguyễn Diêu, hiệu Quỳnh Phủ, quê quán Nhơn Ân, Phước Thuận, Tuy Phước. Theo tài liệu của tác giả Thúy Vi đăng trên Báo Bình Định ngày 15.4.2003 thì cụ sinh vào ngày 21/7 năm Minh Mệnh thứ 2 (1822), mất ngày 19-3 năm Tự Đức thứ 33 (1880). Cụ là soạn giả tuồng hát bội nổi tiếng, là thầy dạy học và nghiệp sư hát bội của hậu tổ hát bội Đào Tấn (1845 – 1907). Tuồng hát bội Bình Định nửa cuối thế kỉ XIX gắn liền với tên tuổi của hai thầy trò cụ Tú Nhơn Ân. Trong đó, các vở diễn của Quỳnh Phủ tiên sinh vẫn được lưu diễn đến tận ngày nay là Ngũ Hổ Bình Tây (Liêu), Liệu đố (Chữa bệnh ghen), Nguyệt Cô hóa cáo(còn có các tên gọi Võ Tam Tư trảm Nguyệt CôCổ miếu vãn ca, còn gọi theo lối dân dã làChém Cáo)… Năm 2011 vừa qua, công trình Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu – ông đồ nghệ sĩ của nhà nghiên cứu lão thành Vũ Ngọc Liễn đã tập hợp, giới thiệu trọn vẹn văn bản của ba vở tuồng này.
            Những nghiên cứu văn bản, cảm nhận, giai thoại về cuộc đời và sự nghiệp của nhà soạn tuồng Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu phần lớn chỉ đăng rải rác, mang tính chất bàn góp hoặc điểm xuyết trong quá trình nghiên cứu tuồng hát bội nói chung, chưa có công trình nào tập hợp đầy đủ và bước đầu có ý thức hệ thống như công trình của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn. Nhưng như tác giả công trình đã trình bày về việc biên soạn trong điều kiện bệnh tật, chạy đua với thời gian nên không khỏi còn bỏ sót, nhầm lẫn hoặc chưa đầy đủ, vì vậy trong phạm vi tham luận này, người viết xin điểm thêm một vài ý kiến đánh giá trong hệ thống tư liệu cá nhân thu thập được mà chưa được nói đến trong quyển sách của Vũ tiên sinh.

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Sao không là tiếng Việt?

Trong chương trình THPT hiện hành, có một bài học nhan đề : "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" mà có lẽ nhiều giáo viên khi dạy đã không ý thức một cách đầy đủ nhiệm vụ của mình là "bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Việt Nam".
Sẽ phải giật mình vì hiện tại nhiều học trò đến lớp 12, thậm chí cả sinh viên đại học, học viên cao học mà vẫn viết tiếng Việt chưa thông, đầy những lỗi chính tả, ngữ pháp, hành văn trong những văn bản tự tay các em soạn thảo.
Chú tôi, một người đi du học ở Pháp từ năm 1964, có 3 con gái sinh ra ở Pháp, nhưng các em con chú đều đọc thông viết thạo tiếng Việt. Bên đó không dạy chương trình tiếng Việt như một bộ môn tự chọn, với mục tiêu : "
bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Việt ở Pháp", nhưng các em con của chú đều yêu và tự hào với ngôn ngữ của quê cha đất tổ. Vợ chồng chú thím tôi đều là người Việt, nên các em đều nói tiếng Việt khi về nhà, dù em nào cũng nói tới 3, 4 ngoại ngữ! Tình yêu tiếng mẹ đẻ bắt nguồn từ mỗi gia đình. Bên cạnh việc chú thím tôi cho các em học tiếng Việt ở trong cộng đồng người Việt, ở nhà các em đều được chỉ bảo cặn kẽ cách dùng từ và phong cách diễn đạt Việt Nam. Chú thím là người mang hai quốc tịch, được chính phú Pháp tín nhiệm vì những cống hiến cho nước Pháp, nhưng chú luôn trăn trở việc đóng góp cho quê hương, quan tâm đến dòng tộc. Kể lể dài dòng như vậy để thấy rằng ở quốc gia được xem là cái nôi của nền văn minh châu Âu như Pháp, tình cảm yêu quý và niềm tự hào với ngôn ngữ dân tộc của cộng đồng người Việt không phải do sự can thiệp của Bộ giáo dục mà thành, mà cũng chẳng thể áp đặt lối tư duy như thời thực dân cho con em người Việt để nhận xằng "tổ tiên chúng ta là người Gô-loa"! Việc áp đặt một chương trình dạy học tiếng Hoa của Bộ Giáo dục - Đào tạo cho cộng đồng người Hoa liệu có cần thiết chăng, khi chính con em người Việt đang xa dần ngôn ngữ người Việt, thờ ơ với tiếng mẹ đẻ?
Chính những người thuộc thế hệ trước như chú tôi, mỗi khi trò chuyện với nhau thường than phiền về việc người Việt hiện nay sử dụng tiếng Việt một cách bừa bãi, không theo một chuẩn mực nào. Dượng tôi nguyên là một giáo sư Anh Văn, Pháp Văn nhưng ông cũng rất quan tâm đến việc diễn đạt tiếng Việt, đã đưa ra nhiều dẫn chứng về việc dùng sai qui tắc tiếng Việt và thậm chí đã soạn hẳn một bộ tài liệu về việc viết chữ Việt đúng qui tắc. Chú tôi và dượng tôi, một ông ở trời Tây, một ông ở đất Tổ, không hẹn mà gặp khi bàn luận cùng tôi, một giáo viên dạy Ngữ Văn cấp Trung học Phổ thông, đều gửi gắm ước nguyện giúp học trò nói và viết ngôn ngữ Việt đúng chuẩn. Bản thân tôi, nhiều khi tự hào về vốn liếng tiếng Việt kha khá, đã không thể phản bác trước những chứng cứ về việc dùng sai tiếng Việt ngay trên báo chí chính thống: việc dùng lẫn lộn quy/qui, Tý/Tí; chia sẻ hay san sẻ; bỏ dấu như thế nào là đúng ở chữ hòa/hoà...? Cách dùng từ tại sao lại có kiểu lẫn lộn Ta - Tàu hay kiểu ghép từ liên ba như: Ngư lưới cụ, Nông ngư cơ, phối kết hợp...? Rồi tình trạng lộn xộn trong thuật ngữ chuyên ngành ngôn ngữ: trong tiếng Anh có một loạt các thuật ngữ như giới từ, túc từ, hình dung từ, ... hoàn toàn không có sự thống nhất với đơn vị từ tương đương trong tiếng Việt. Tôi toát mồ hôi vì những câu hỏi, chính vì ngay cả Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng chưa hề có một qui chuẩn thống nhất trình qua Quốc hội để thông qua. Có những điều bản thân tôi được dạy thời đại học trong phần ngôn ngữ đại cương rằng vì phiên âm quốc tế giống nhau nên dùng quy/qui đều được... Nghĩa là có bao điều trong tiếng Việt chưa hề chuẩn mà chính chúng tôi nhiều khi dạy theo thói quen cũng dễ dàng bỏ qua. Có lúc tôi đã cố cãi trường hợp dùng từ: chia sẻ/ chia xẻ là tùy trường hợp và căn cứ vào sự phát triển ngôn ngữ Việt như một sinh ngữ thì phải chấp nhận sự phát triển và cả thói quen, trong khi cả chú và dượng tôi đều nhất trí phải dùng từ đúng là "chia xẻ"! Trong các tài liệu gần đây, tôi đã cố tìm mà chưa thấy cứ liệu nào để nói lai cho rõ!
Tiếng Việt đáng lẽ phải là ưu tiên hàng đầu và cần phải được qui chuẩn là việc nên làm lúc này của Bộ. Đã gọi là chuẩn thì từ cấp tiểu học cho đến các cấp học cao hơn, từ người dân thường đến các cơ quan truyền thông báo chí, giới văn chương học thuật cần phải tuân theo. Điều đó cần thiết hơn là biên soạn chương trình dạy tiếng của một dân tộc khác cho một cộng đồng dân tộc, trên một đất nước có tới 54 dân tộc! Tiếng Việt phổ thông chưa chuẩn, vậy tiếng dân tộc thiểu số có chuẩn chăng, mà như vậy thì làm sao
bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng dân tộc đó, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người dân tộc đó ở Việt Nam? Tiếng Việt ta không chú ý giữ gìn, để phát triển tự do, theo thói quen muốn đọc sao cũng được thì gay go to! E rằng, đến một lúc bảng chữ cái tiếng Việt không đọc là : a, bờ, cờ, dờ, đờ ... hay a, bê, xê, dê, đê... mà thành ay, bi, xi, đi hay lai thêm vài kiểu diễn đạt teen nX: bùn wá! Khân bít lèm seo!