Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Sao không là tiếng Việt?

Trong chương trình THPT hiện hành, có một bài học nhan đề : "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" mà có lẽ nhiều giáo viên khi dạy đã không ý thức một cách đầy đủ nhiệm vụ của mình là "bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Việt Nam".
Sẽ phải giật mình vì hiện tại nhiều học trò đến lớp 12, thậm chí cả sinh viên đại học, học viên cao học mà vẫn viết tiếng Việt chưa thông, đầy những lỗi chính tả, ngữ pháp, hành văn trong những văn bản tự tay các em soạn thảo.
Chú tôi, một người đi du học ở Pháp từ năm 1964, có 3 con gái sinh ra ở Pháp, nhưng các em con chú đều đọc thông viết thạo tiếng Việt. Bên đó không dạy chương trình tiếng Việt như một bộ môn tự chọn, với mục tiêu : "
bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người Việt ở Pháp", nhưng các em con của chú đều yêu và tự hào với ngôn ngữ của quê cha đất tổ. Vợ chồng chú thím tôi đều là người Việt, nên các em đều nói tiếng Việt khi về nhà, dù em nào cũng nói tới 3, 4 ngoại ngữ! Tình yêu tiếng mẹ đẻ bắt nguồn từ mỗi gia đình. Bên cạnh việc chú thím tôi cho các em học tiếng Việt ở trong cộng đồng người Việt, ở nhà các em đều được chỉ bảo cặn kẽ cách dùng từ và phong cách diễn đạt Việt Nam. Chú thím là người mang hai quốc tịch, được chính phú Pháp tín nhiệm vì những cống hiến cho nước Pháp, nhưng chú luôn trăn trở việc đóng góp cho quê hương, quan tâm đến dòng tộc. Kể lể dài dòng như vậy để thấy rằng ở quốc gia được xem là cái nôi của nền văn minh châu Âu như Pháp, tình cảm yêu quý và niềm tự hào với ngôn ngữ dân tộc của cộng đồng người Việt không phải do sự can thiệp của Bộ giáo dục mà thành, mà cũng chẳng thể áp đặt lối tư duy như thời thực dân cho con em người Việt để nhận xằng "tổ tiên chúng ta là người Gô-loa"! Việc áp đặt một chương trình dạy học tiếng Hoa của Bộ Giáo dục - Đào tạo cho cộng đồng người Hoa liệu có cần thiết chăng, khi chính con em người Việt đang xa dần ngôn ngữ người Việt, thờ ơ với tiếng mẹ đẻ?
Chính những người thuộc thế hệ trước như chú tôi, mỗi khi trò chuyện với nhau thường than phiền về việc người Việt hiện nay sử dụng tiếng Việt một cách bừa bãi, không theo một chuẩn mực nào. Dượng tôi nguyên là một giáo sư Anh Văn, Pháp Văn nhưng ông cũng rất quan tâm đến việc diễn đạt tiếng Việt, đã đưa ra nhiều dẫn chứng về việc dùng sai qui tắc tiếng Việt và thậm chí đã soạn hẳn một bộ tài liệu về việc viết chữ Việt đúng qui tắc. Chú tôi và dượng tôi, một ông ở trời Tây, một ông ở đất Tổ, không hẹn mà gặp khi bàn luận cùng tôi, một giáo viên dạy Ngữ Văn cấp Trung học Phổ thông, đều gửi gắm ước nguyện giúp học trò nói và viết ngôn ngữ Việt đúng chuẩn. Bản thân tôi, nhiều khi tự hào về vốn liếng tiếng Việt kha khá, đã không thể phản bác trước những chứng cứ về việc dùng sai tiếng Việt ngay trên báo chí chính thống: việc dùng lẫn lộn quy/qui, Tý/Tí; chia sẻ hay san sẻ; bỏ dấu như thế nào là đúng ở chữ hòa/hoà...? Cách dùng từ tại sao lại có kiểu lẫn lộn Ta - Tàu hay kiểu ghép từ liên ba như: Ngư lưới cụ, Nông ngư cơ, phối kết hợp...? Rồi tình trạng lộn xộn trong thuật ngữ chuyên ngành ngôn ngữ: trong tiếng Anh có một loạt các thuật ngữ như giới từ, túc từ, hình dung từ, ... hoàn toàn không có sự thống nhất với đơn vị từ tương đương trong tiếng Việt. Tôi toát mồ hôi vì những câu hỏi, chính vì ngay cả Bộ Giáo dục - Đào tạo cũng chưa hề có một qui chuẩn thống nhất trình qua Quốc hội để thông qua. Có những điều bản thân tôi được dạy thời đại học trong phần ngôn ngữ đại cương rằng vì phiên âm quốc tế giống nhau nên dùng quy/qui đều được... Nghĩa là có bao điều trong tiếng Việt chưa hề chuẩn mà chính chúng tôi nhiều khi dạy theo thói quen cũng dễ dàng bỏ qua. Có lúc tôi đã cố cãi trường hợp dùng từ: chia sẻ/ chia xẻ là tùy trường hợp và căn cứ vào sự phát triển ngôn ngữ Việt như một sinh ngữ thì phải chấp nhận sự phát triển và cả thói quen, trong khi cả chú và dượng tôi đều nhất trí phải dùng từ đúng là "chia xẻ"! Trong các tài liệu gần đây, tôi đã cố tìm mà chưa thấy cứ liệu nào để nói lai cho rõ!
Tiếng Việt đáng lẽ phải là ưu tiên hàng đầu và cần phải được qui chuẩn là việc nên làm lúc này của Bộ. Đã gọi là chuẩn thì từ cấp tiểu học cho đến các cấp học cao hơn, từ người dân thường đến các cơ quan truyền thông báo chí, giới văn chương học thuật cần phải tuân theo. Điều đó cần thiết hơn là biên soạn chương trình dạy tiếng của một dân tộc khác cho một cộng đồng dân tộc, trên một đất nước có tới 54 dân tộc! Tiếng Việt phổ thông chưa chuẩn, vậy tiếng dân tộc thiểu số có chuẩn chăng, mà như vậy thì làm sao
bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng dân tộc đó, nâng cao nhận thức về trách nhiệm giữ gìn và phát triển ngôn ngữ và văn hóa của người dân tộc đó ở Việt Nam? Tiếng Việt ta không chú ý giữ gìn, để phát triển tự do, theo thói quen muốn đọc sao cũng được thì gay go to! E rằng, đến một lúc bảng chữ cái tiếng Việt không đọc là : a, bờ, cờ, dờ, đờ ... hay a, bê, xê, dê, đê... mà thành ay, bi, xi, đi hay lai thêm vài kiểu diễn đạt teen nX: bùn wá! Khân bít lèm seo!

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012

Vũ Ngọc Liễn - người nặng lòng với Đào Tấn và tuồng hát bội

Trong lịch sử hát bội Việt Nam, vị hậu tổ Đào Tấn (1845 - 1907) còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ. Chỉ đến khi hội nghị nghiên cứu Đào Tấn lần thứ I (1977) thì tên tuổi cũng như sự nghiệp của ông mới thật sự được chú trọng trong giới nghiên cứu, học thuật của nền văn học cách mạng. Người tiên phong trong việc khẳng định vai trò Đào Tấn chính là thi sĩ Xuân Diệu. Trong các cuộc hội thảo lần thứ II (1982) hội thảo lần thứ III (2001) các ý kiến đánh giá về Đào Tấn, các bài tham luận của nhiều học giả đã bổ sung thêm nhiều tài liệu quý báu. Thế nhưng hầu như sau các cuộc hội thảo ấy, thành tựu chỉ nằm trong các tập kỉ yếu hội nghị. Cụ Đào Tấn không có dịp đến với công chúng cả nước. Tại hội thảo lần thứ III, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã đặt vấn đề tập hợp công bố di cảo đồ sộ của Đào Tấn cũng như các kết quả nghiên cứu ban đầu, với dự định sẽ phải hơn nghìn trang viết. Nhưng rồi, không ai đủ kinh nghiệm, công sức cũng như niềm đam mê theo đuổi đến cùng việc nghiên cứu Đào Tấn như Vũ Ngọc Liễn. Vậy là vị lão tướng đã xấp xỉ bát tuần lại dồn hết tâm sức để làm một việc tưởng chừng như không tưởng, thực hiện đơn đặt hàng của Nhà nước để làm nên bộ công trình đồ sộ ba tập: Đào Tấn Thơ và Từ (in 2003), Đào Tấn Tuồng hát bội (in 2005) và Đào Tấn qua thư tịch (in 2006). Ròng rã bốn năm trời, khi bộ sách hoàn thành cũng là lúc ông nâng ly mừng thọ 82 tuổi!
vnl
Cảm động biết bao nhiêu công việc thầm lặng mà đầy ý nghĩa này. Cảm động biết bao nhiêu những lời tác giả ghi sau của cuốn sách, với sự khiêm tốn nhận lỗi sai sót trong quá trình biên khảo và lời tri ân : "Nhân dịp bộ sách Đào Tấn hoàn tất việc in ấn tôi xin ghi ơn những người đã có công đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào công trình nghiên cứu danh nhân Đào Tấn bao năm qua, trong số ấy nhiều người đã quá cố như anh Xuân Diệu, Hồ Đắc Bích, cụ Mạc Như Tòng, cụ Tống Phước Phổ, anh Đỗ Văn Hỷ... Tôi đặc biệt cảm ơn hai ông bạn vong niên Bùi Lợi và Mạc Côn đã cùng tôi lăn lộn sưu tầm tài liệu về Đào Tấn suốt thời gian dài. Cảm ơn cô Kim Hưng (Nhà xuất bản Văn học) đã giúp tôi chăm sóc bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu ở Nhà Xuất bản Văn Học (1987). Cảm ơn ông bạn Nguyễn Thanh Hiện đã cùng tôi vật lộn với chữ nghĩa làm bản thảo tập Thơ và Từ Đào Tấn in lần đầu. Cảm ơn Ty Văn Hóa - Thông Tin Nghĩa Bình trước đây và Sở Văn Hóa Thông Tin Bình Định hiện nay luôn cổ vũ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu về Đào Tấn. Cảm ơn Nhà xuất bản Sân khấu của hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam luôn đôn đốc và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn tất công tác biên khảo bộ sách này" (Ghi sau - Đào Tấn qua Thư tịch). Chúng ta hãy hiểu niềm cảm động biết ơn của một nhà nghiên cứu tuổi 82, đã không hề quên công những người đã giúp ông có dũng khí, niềm tin và sức lực cho một bộ ba tác phẩm đồ sộ về Đào Tấn. 
Điều đáng nói là sau khi công trình này ra đời, nhiều nhà nghiên cứu, các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quy Nhơn, Đại học KHXHNV thành phố Hồ Chí Minh đã có thể có một cái nhìn tổng thể, toàn diện hơn về Đào Tấn, tiếp tục khai thác để cho sự nghiệp của danh nhân Đào Tấn thật sự hoàn thiện trong mắt mọi người. Đã bắt đầu có nhiều luận văn thạc sĩ ở Hà Nội, Quy nhơn, TP. Hồ Chí Minh có điều kiện khai thác sâu hơn về Đào Tấn, nhờ những tư liệu quý từ bộ sách. Nhiều sinh viên trẻ đã tìm đến với Vũ tiên sinh để cùng nhau nói về tuồng hát bội, về thơ và từ Đào Tấn, tham khảo những ý kiến của một người tuổi tác đáng cụ, đáng ông nhưng tấm lòng với Đào Tấn vẫn sôi sục nhiệt thành như tuổi đôi mươi. Đáng nể hơn là họ vẫn thấy ông cặm cụi biên soạn các công trình mới, phổ cập đến đại chúng những tài liệu vốn dĩ thường được lưu trong dòng tộc như gia bảo rồi dần dần mai một! Lần lượt những tài liệu "Chầu Đôi" (Trúc Tôn Phạm Phú Tiết) được chỉnh sửa hoàn thiện, "Góp nhặt dọc đường", "Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - ông đồ nghệ sĩ" của ông ra đời và được đón nhận nồng nhiệt. Đó là cái Tâm với tuồng, với cả bậc thầy của hậu tổ Đào Tấn, tấm lòng dành cho bậc cha chú đã dìu dắt ông vào nghề. Một con người như vậy, thật đáng kính. Có lẽ cũng chính từ tình yêu không mệt mỏi với nghệ thuật tuồng đã giúp ông vượt lên cả trận đột quị tai biến để hoàn thành tâm nguyện biên khảo về Nguyễn Diêu - thầy của hậu tổ hát bội Đào Tấn vào năm 2011 vừa qua.
nd
Một con người lao động bền bỉ, chỉ với một tâm nguyện đưa tên tuổi Đào Tấn, đưa nghệ thuật tuồng đến với công chúng hôm nay xứng đáng được ghi nhận công lao. Và biết bao người làm văn hóa nghệ thuật đã phải kính phục con người vượt lên chính mình, luôn học hỏi rèn luyện cầu thị để trở thành một nhà nghiên cứu tuồng hàng đầu Việt Nam. Không những thế, con người ấy luôn tỏ rõ sĩ khí trước những hành vi làm vấy bẩn bầu không khí văn chương, thẳng thắn lên tiếng trước những điều sai trái. Đáng trân trọng thay!
Vĩ thanh: vậy mà từ khi bộ ba công trình về Đào Tấn cùng với "Góp nhặt dọc đường" của tác giả Vũ Ngọc Liễn được đề cử giải thưởng Nhà nước như một ghi nhận công lao của người bền bỉ phấn đấu vì sự nghiệp bảo tồn và phát huy nghệ thuật tuồng hát bội, người góp phần không nhỏ đem Đào Tấn đến với công chúng thế hệ sau, đã có một số kẻ không  khỏi hận thù. Một vài bài báo trên những tờ chẳng liên quan gì đến văn chương học thuật như "Tài nguyên và Môi trường" và gần đây là báo "Tiền Phong" đã cho đăng những bài thóa mạ, vu cáo, xuyên tạc, xúc phạm tên tuổi của Vũ Ngọc Liễn, mà tên tuổi của người viết khiến người đọc ngơ ngác chẳng biết họ là ai! Rồi một vài trang mạng đăng lại, có những trang đăng hàng chục còm-men với lời lẽ đầy thù hận, hằn học mà không một lần dám chính danh. Tất cả những thông tin ấy đến tai anh em văn nghệ sĩ Bình Định, nhiều người nổi giận muốn tìm ra chân tướng những kẻ nặc danh ti tiện. Đã quá cũ rồi cái trò tung hỏa mù để tạo dư luận hòng cho hội đồng xét giải thưởng Nhà nước gác lại công trình của tác giả "có vấn đề"! Những luồng gió độc lởn vởn ấy có làm cho nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn bận tâm chăng? Gặp ông định hỏi, nhưng Vũ Tiên sinh dường như không chút bận lòng. Ông lại say sưa với ý định viết về Xuân Diệu, tìm hiểu về những người bạn văn tuyệt vời của Bàn Thành Tứ Hữu...
23.2.2012
TRẦN HÀ NAM 
hb 

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

TẾT

 

Sáng nay cho một đề luyện tập mở cho lớp Văn, vỏn vẹn một chữ: Tết!
Mới thấy ý niệm về Tết thật là ít ỏi đối với học trò. Chợt nhớ những bài học trong Quốc văn giáo khoa thư thời của cha, dạy cho học trò từng ly từng tí về lễ nghĩa đạo đức cần phải có. Những bài học cho tuổi thơ thật trong trẻo và gần gũi với đời sống.
Có vẻ như giáo dục hiện nay ở môn Văn không chú trọng bồi đắp nền tảng văn hóa cho học trò một cách nhẹ nhàng mưa dầm thấm lâu mà thiên về áp đặt khuôn mẫu...

Tết là gì?
Tôi nhớ ngày tôi còn nhỏ, háo hức mỗi khi Tết đến, khoảng 27 - 28 tháng Chạp là "canh me" chỉ để được nhảy qua xóm bên ngồi túm tụm cùng mấy đứa bạn xóm "trường Đảng" ngồi coi nồi bánh chưng. Hồi mẹ còn ở ngoài Bắc chưa về, cha về quê bỏ lại một mình trông nhà, vắng vẻ thấy mà phát sợ. 
Ngày Tết, cũng thích đi qua nhà cô sát bên cạnh để dện bánh in, hồi ông nội còn sống thương thằng cháu, mà thằng cháu thì nghịch ngầm và hoang lung. Để bây giờ tiếc vì được học ông nội quá ít: vừa nhận mặt được mấy quẻ bát quái - kiền tam liên, khảm trung mã, cấn phúc quyển, chấn ngưỡng bồn, tốn hạ đoạn, ly trung hư, đoài thượng khuyết. Thêm vào đó là hai câu đối treo ở phòng ông: Lan quế đằng phương xuân vị ngại - Đấu thăng đãi dưỡng nhật do trường. Là hết! Ngày Tết, ông nội cũng lì xì cho thằng cháu ít đồng lẻ, sung sướng lắm! Hồi đó, còn nhớ cô Dư lì xì nhiều nhất, mà có lẽ hồi nhỏ mình hay qua chơi bên nhà cô, vì bếp ăn tập thể công đoàn tỉnh hồi đó gần nhà cô... Tết thích nhất là lì xì, mà chẳng biết tiêu gì, ra hội chợ chơi lô tô, chơi trò chơi hết sạch! Năm nào cũng mang về ít bộ ly, có lần trúng lô tô được cái lốp xe (đáng lẽ được khung xe nhưng do chơi lần đầu, lúc người ta hô "kinh!", mình mới hỏi người bên cạnh, lật đật hô "kinh!" - thế là giải chia đôi! Thắng chả bù thua, tại hồi đó ham chơi bầu cua tôm cá mãi đến hết cấp 2 thì mới thề không thèm chơi nữa, mới biết để dành tiền! Mà hết tiền đâm ra láu cá, lại nhớ coi có bác, có thím nào chưa thăm, tới nhà chơi, chúc Tết rôm rà, để ... nhận tiền lì xì ra ngồi sòng tiếp!!! Thành thử lại được khen là...ngoan, lễ phép, biết thăm và chúc Tết bà con, dù không có cha mẹ đi kèm! Thế là sau này lớn lên, năm nào cũng được nhắc đi thăm người này người kia! Hì, cũng là để chuộc tội láu cá hồi nhỏ.
Tết, hồi nhỏ được kèm cặp đánh đồ đồng bằng chanh và tro bếp rây mịn, năm nào cũng đánh, thành chuyên gia! Trước 23 thường về quê đi chạp mả. Riết rồi quen, năm nào không đi cảm thấy thiếu thiếu! Hai anh em được ông nội dạy cúng, nhưng có lẽ do mình vào trước 3 năm, ở gần ông nội nên cúng quen hơn, còn ông anh thì lạy như bửa củi! (Hì, bây giờ bác làm trưởng nam nên thành chuyên gia đại diện gia đình đi cúng giỗ, cũng là để bù!!!). Mình học cúng bài bản, được ông nội khen, thích lắm! Ba bái bốn lạy, đúng kiểu nhất bộ nhất bái! Mà lòng tay cúng ông bà thì úp xuống, không ngửa ra như lễ Phật! Ngày Tết thì 30 cúng rước, mồng 3 cúng đưa, có đi chơi đi thăm ai cũng phải nhớ mà về làm đủ lễ nghĩa! Bày mâm cúng thì khỏi nói, ông nội coi bày không đúng phép tắc thì chỉnh từng li từng tí! Dịp Tết năm ngoái, lên lễ đền Tây Sơn, mình mới được biết thêm: lạy vua 5 lạy. Trước đó chỉ biết lạy Phật 3 lạy, lạy ông bà 4 lạy, lạy linh sàng 2 lạy!!!
Tết khi mẹ vào Nam từ năm 1979 thì còn sướng là được ăn thịt kho Tàu ăm ắp, thịt nấu măng khô, bánh chưng mẹ gói. Ngon ơi là ngon! Mẹ nấu món Tết ngon lắm, đi chơi đâu về lăn vào kiếm cái bánh chưng, hay cuốn bánh tráng đổ chả kèm rau sống là sung sướng cuộc đời! Sau mẹ truyền nghề cho con dâu, ăn mấy món khoái khẩu ngày Tết, lại rưng rưng nhớ mẹ...
Hồi còn ở với mẹ, năm nào giao thừa cũng thức đốt pháo cho đến khi Nhà nước cấm pháo, chả bù hồi trước, có lần giao thừa mình lang thang ngoài đường lượm pháo, về tha thẩn ngồi trước nhà, lôi từng viên pháo mót ra đốt mà ứa nước mắt! Sau này kể lại cho mẹ nghe, mẹ cũng khóc ứa nước mắt. Biết làm sao, cha năm nào cũng phải về quê, không có mẹ, có anh,, thui thủi chả khác mồ côi, sao mà không chạnh lòng! Có mẹ, có anh, khi cha về quê thì mấy mẹ con quây quần bên ấm trà, quả bánh, lúc lớn hơn lại có hẳn ly rượu mừng, mẹ con chúc nhau sau giao thừa thật vui! Đến khi có vợ ra ở riêng, sau giao thừa lại có niềm vui gọi điện chúc Tết cha,  mẹ và bà con phía ngoại (vì quê nội thường ít ai thức đến giờ đó đón giao thừa, buồn hiu!). 
Mồng 1 thường mấy anh em về quê sớm, đi thăm Từ đường lớn, từ đường các phái, uống chén rượu xuân, hỏi thăm chúc Tết bà con. Lớn lên, có gia đình vẫn giữ được lệ này. Mấy cu con nhà mình nhìn chung chưa được giáo dục đầy đủ và nghiêm ngặt như ba nó, nên bây giờ lớn rồi mà vẫn cứ lộc ngộc, lơ ngơ chả biết ai với ai. 
Lễ nghĩa ngày Tết nhiều khi phiền toái, nhưng ngẫm kĩ lại hay, vì nối kết được tình gia đình, tộc họ, quê hương. Tết thời nay nhạt đi nhiều phần lễ mà chú trọng nhiều phần hội, chơi là chính ăn là phụ, tình tộc họ cũng nhạt đi nhiều, trẻ con ít thích về quê hay có về phần nhiều cũng lơ ngơ!
Cho một đề Văn, mà tự dưng có bao điều để nhớ lại, cũng hay! Thấm thoắt mà đón Tết ở quê nội Bình Định đã 35 năm rồi! Bây giờ, đâm ra hoài cổ như một ông già... Học trò nghe dăm chuyện Tết mình kể, cứ như là nghe chuyện ngày xửa ngày xưa!
 Ừ, ngày xửa ngày xưa, Tết là…
27 tháng Chạp Tân Mão
Trần Hà Nam

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Tản mạn về phong cách nhà văn - Hàn Mặc Tử


Phong cách nhà văn, được hiểu theo một công thức quen thuộc: phong cách xét từ hai mặt nội dung và hình thức. Nội dung bao hàm ba phương diện: cách nhìn - cách cảm - cách đánh giá. Hình thức xét ở hai mặt: cách lựa chọn và cách thể hiện. Nhà văn có phong cách tức là các mặt biểu hiện trên phải độc đáo, sáng tạo, mang dấu ấn cá tính riêng biệt. Cơ sở hình thành nên một phong cách nhà văn là yếu tố dân tộc - lịch sử - thời đại ; đồng thời còn là những nét riêng trong đời tư, các nhân tố gia đình, dòng tộc, quê hương... Tất cả những điều này chi phối, định hướng việc tìm hiểu phong cách tác giả trong văn học nhà trường, thành nếp tư duy quen thuộc và ít nhiều làm mất cảm hứng sáng tạo trong cảm nhận nét hấp dẫn, sức sống tác phẩm toát lên từ phong cách nhà văn. Trên trang riêng này, thử một lần thoát khỏi tư duy nhà giáo để làm một người cảm thụ thuần túy xem sao!



Trong số các nhà văn nhà thơ, có lẽ ấn tượng nhất với tôi là Hàn Mặc Tử. Từ những ngày xưa khi còn là học trò, đã ám ảnh bởi những câu thơ Hàn:
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

(Đây thôn Vĩ Dạ)
Để rồi đến khi thành sinh viên, năm 1987, niềm vui lớn lao chính là khi mua được quyển "Thơ Hàn Mặc Tử". Đến lúc đó, mới thật sự làm một hành trình đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử trong thơ. Nhưng điều khiến tôi nhớ về Hàn, hình dung về Hàn có phần nào ảnh hưởng từ Chế Lan Viên, trong bài tựa "Hàn Mặc Tử, anh là ai": "Bây giờ thì Hàn Mặc Tử nằm đây, trên điểm cao Gành Ráng này, đối diện với bể Đông. Bể chói lòa như thơ Anh và giông bão tựa đời Anh". Chế quả thật là một trong những tri âm của Hàn, khi hai con người cùng "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" từ thuở cùng là chủ soái của "trường thơ Loạn", cùng tự nhận mình là điên, là say, là người mơ, người thơ... Kể cả khi thơ lãng mạn trong nhà trường bị xem là "bạc nhược, suy đồi" thì Chế vẫn mượn lời Hàn đề từ cho bài thơ của mình: "Người Thơ phong vận như Thơ ấy". Mới thấy, lời quả quyết của hơn 40 năm trước của Chế cùng lời tựa năm 1987 nhất quán một cách đánh giá: "Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, còn lại chút gì trên đời này đáng kể, đó chính là Hàn Mặc Tử". Dẫu cho trong thời điểm 1987, bài viết của Chế Lan Viên còn nhiều phen phải đóng vai trò thầy cãi để chứng minh sự trở lại xứng đáng trên văn đàn Việt Nam của Hàn. Cũng phải thôi, vì văn học Việt Nam đến thời điểm đó mới bừng tỉnh và đang dè dặt những bước chân trên hành trình đổi mới. Việc quy chụp quan điểm, khắt khe với dòng văn học trước cách mạng vẫn còn nặng nề. Bài viết mang tính "định hướng" cách tiếp cận Hàn Mặc Tử phần nào chi phối cảm xúc, nhưng khi đọc hết tập thơ, người viết bài này đã hoàn toàn bị hút vào không gian thơ Hàn Mặc Tử, không phải bằng cảm giác của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam khi lạc bước vào một vườn thơ "rộng rinh và ớn lạnh" mà bằng tất cả sự trong trẻo của một tâm hồn mê đắm văn chương một cách trong trẻo và thánh thiện của một sinh viên khoa Văn.
Có thể bây giờ, khi đã qua tuổi 40, lòng không còn trinh bạch như buổi đầu lưu luyến ấy, nhưng Hàn vẫn có một sức hút, nỗi ám ảnh dị thường.
Một Hàn Mặc Tử đã sống trong thơ "bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn", sống một cách "mãnh liệt và đầy đủ", sống bằng cách "phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu", "đã vui buồn, giận hờn đến gần đứt cả Sự Sống". Phát biểu của chính Hàn Mặc Tử là quan niệm thơ thành thực bậc nhất, chính xác đến từng câu chữ, hình ảnh, giọng điệu trong sáng tác của Hàn. Người Thơ ấy chỉ sống trên dương thế 28 năm, nhưng sức sống từ thơ Hàn đã vượt qua mọi giới hạn thời gian. Thiết nghĩ Hàn mới chính là người đã đẩy Thơ Mới đi đến tận cùng hành trình hiện đại hóa, một cách hết sức tự nhiên bằng bản năng thi nhân của Hàn.
Chu Văn Sơn có lí khi gọi thi pháp của Hàn là "Thi học của cái tột cùng". Nhưng tôi hoàn toàn không thích cái cách tiếp cận Hàn bằng lối hàn lâm kinh viện của anh, ngồn ngộn kiến thức, uyên bác thật đấy, nhưng đọc xong rồi cảm thấy ngờ ngợ vì dường như đó không phải là Hàn của mình, Hàn như mình hình dung và yêu mến! Dù cho luận thuyết của anh về Hàn cũng có những lúc gật gù tâm đắc "Thế là đau thương! Thế mới đau thương!" khi khảo sát về tập Đau thương - tức Thơ Điên của Hàn, nhiều người gật gù theo nhưng riêng tôi không cảm được! Cũng đành, biết sao!
Hàn Mặc Tử, với tôi, là người đem đến cho thơ cái rụt rè buổi đầu trinh bạch trong tình yêu, với những cảm giác sống động cựa quậy trong từng câu chữ:
"Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá
Dám ôm hồn Cúc ở trong sương"

Trạng thái "tình trong như đã mặt ngoài còn e" từ thời Nguyễn Du phải đến Hàn mới thật sự đốt thiêu tâm hồn bằng ngọn lửa tình ngùn ngụt nhưng lại che đậy bằng dáng vẻ bên ngoài "bẽn lẽn" ngượng ngập của người "gái quê" chân chất:
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ đến cái tiết trinh em

Chân dung Gái quê cũng là chân dung của Hàn trong khoảnh khắc đầu tiên đặt chân trên con đường cách tân để làm một hành trình thơ mới thoát thai khỏi cách nhìn cũ, cảm nhận cũ. Hồn xưa Lý Bạch vẫn còn đó trong làn gió Đường thi của bài Xuân Tứ, nhưng lại rất phương Tây trong nụ hôn làm hồng đôi má giai nhân! Lại thêm cái tươi mát của ca dao dân Việt gợi cảm với lối xưng "em" rất nữ tính, gợi về vẻ đẹp "Thân em như chẽn lúa đòng đòng - Phất phơ dưới ngọn nắng hồng sớm mai". Nghĩa là Hàn không đi tìm cái mới trong việc miệt mài tìm tứ lạ, "khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen" như Xuân Diệu mà chủ động tìm một lối của riêng mình. Hàn đã thật ngạo nghễ khi phê phán Baudelaire bùng nhùng giữa dục tính và tình cảm, trong lá thư gửi người bạn thơ Hoàng Trọng Miên để tuyên ngôn quan niệm thơ của mình.
Chọn con đường này, Hàn đã phát huy sức sáng tạo bùng nổ của mình trong những bài thơ tuyệt tác của tập Đau thương. Có lẽ trong cuộc so tài để chứng tỏ cái ngạo khí thi sĩ phương Đông với tác giả Hoa Ác - nhà thơ Baudelaire, Hàn đã phải đối diện với tư cách con chiên của Chúa, vượt qua lời nguyền thành "thi sĩ của đội quân Thánh giá", nên đã có lúc Hàn nguyện với lòng sẽ đốt tập Thơ Điên để giữ trọn "Sự trong sạch của tâm hồn" trước khi về nước Chúa chăng? May thay, những người bạn đã làm trái di nguyện của Hàn, để cho bao thế hệ sững sờ với những câu thơ có sức quyến rũ ma mị, đôi khi chỉ cảm mà không cần thiết hiểu. Vả chăng, Hàn cũng đã sám hối trong thơ rồi còn gì, bằng tất cả sự tôn sùng dành cho Đức Mẹ Đồng Trinh và Thiên Chúa:
Xin thứ tha những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng
Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng

Có thể qua từng chặng Đau thương : Hương thơm - Mật đắng - Máu cuồng và Hồn điên ta chứng kiến một tâm hồn nhỏ máu vì bị tách ra khỏi cuộc đời yêu thương bởi căn bệnh quái ác, bị cách ly bởi những thành kiến nghiệt ngã của người đời. Nhưng hạnh phúc biết bao khi Hàn nhận phần đau thương bỏng rát về mình, để đem cho Đời "những dòng thơ rất mát".
Hỡi những ai đọc Hàn, hãy đừng quá chú tâm vào tài năng thơ có thể làm nên những bài đọc xuôi, đọc ngược theo 6 cách như "Cửa sổ đêm khuya" mà hãy lắng nghe tiếng lòng của Hàn đau đáu vọng vang trong từng câu chữ:
Ngoài kia xuân đã thắm duyên chưa
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Chẳng có niềm trăng và ý nhạc
Có nàng cung nữ nhớ thương vua

Khúc cung oán sầu hận ấy là lòng đau của chính Hàn, nhập vào nỗi niềm cung nữ. Đâu phải là nỗi cô đơn thi sĩ làm dáng mà là nỗi đau thực sự của một Con Người. Con Người ấy đã từng yêu biết bao nhiêu Mùa Xuân Chín:
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi!

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây

(...)
Có mùa xuân nào tình tứ và ý nhị thế chăng? Hình ảnh mùa xuân tươi tắn non tơ như tâm hồn thi sĩ dạt dào bao cảm xúc lãng mạn. Có nét tương đồng giữa Hàn Mặc Tử và Lưu Trọng Lư trong cách cảm nhận Hương thơm của tình yêu với vẻ rụt rè như chàng trai mơ mộng hóa thân thành "khách xa", chiêm ngưỡng bức tranh non tơ của thiên nhiên, lắng nghe âm thanh trong vắt của "bao cô thôn nữ". Cứ xa xa mà ngắm, vậy mà đã rạo rực xuân tình trong cảm giác rất mãnh liệt vang lên thành tiếng, hiện ra thành hình: sột soạt, vắt vẻo, hổn hển, thầm thĩ... để cho lòng chàng dậy lên một nỗi "bâng khuâng" giấu mình trong hoài niệm.
Thế giới của Hàn sáng láng nguồn cảm xúc, linh động những cảm xúc trong một không gian luôn cựa quậy câu chữ hình ảnh, ngay cả trong những lúc tưởng như tĩnh lặng, lắng đọng nhất. Ảo và Thực như trộn hòa, không cần phải cố gắng dụng công trong ngữ âm, trong điệp từ. Với Hàn, làm thơ là để cho cảm xúc cứ thế bật lên thành lời, thành nhạc:
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng! Trăng! Trăng...
Hàn Mặc Tử gọi Trăng như chú mục đồng gọi nghé, để trăng hiện lên thật lung linh, huyền hồ, ma mị, bỡn cợt, trêu ngươi, rã rượi trong tuyệt vọng nhưng cũng khắc khoải bao khát vọng. Hàn có cả một Bến sông Trăng để thỏa thuê lặn ngụp, biến hóa, trửng giỡn, đê mê.
- Ha ha! Ta đuổi theo trăng, ta đuổi theo trăng
Trăng bay lả tả ngả trên cành vàng...
- Áo ta rách rưới trời không vá
Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng...
- Một miệng ta trăng là trăng
Lòng ta là vô số gái hồng nhan...
- Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu r
a
- Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Chẳng có một nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm

Chợt nhớ một kỉ niệm cùng Nguyễn Mạnh Quân - người bạn thân hồi còn là sinh viên điêu khắc, là người Quy Nhơn nên chọn đề tài là tượng Hàn Mặc Tử. Cả hai đã cùng lang thang trong Quy Hòa, đã nghiền ngẫm lại tập thơ của Hàn cả hàng mấy tháng trời, đã băn khoăn đi tìm một biểu tượng về Hàn: hoa cúc hay là trăng? Để rồi, bức tượng gỗ mít tạc chân dung Hàn Mặc Tử của Quân đã được chấm điểm cao tuyệt đối và được giữ lại trưng bày ở khoa Điêu khắc trường Mỹ Thuật Huế. Bức tượng bán thân được tạc cách điệu, với khuôn ngực Hàn là một khối âm mang hình vầng trăng khuyết. Vầng trăng đã được anh bạn chọn như là linh hồn, sự sống của Hàn, đã chinh phục những giám khảo điêu khắc khó tính nhất. Tôi chỉ được xem bức ảnh chụp bài thi đã rùng mình, bởi chợt nhớ câu thơ Hàn:
- Hôm nay có một nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
Ta nhớ mình xa thương đứt ruột
...
Vầng trăng - một nửa ấy là một cảm nhận hoàn toàn khác với "Vầng trăng ai xẻ làm đôi" của Nguyễn Du, nhưng lại giống lạ kì ở phẩm chất của những kẻ trót sinh ra cùng một "nòi tình"! Nửa trăng của Hàn "ai cắn vỡ" đã hiện hữu như một biểu tượng đau thương của một hồn thơ luôn khao khát hòa nhập giữa cuộc đời:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Thần thái của thơ Hàn là từ vầng trăng đợi chờ, vầng trăng đau thương một nửa kia. Để thành thơ, thành tình người vô lượng:
Tôi ước ao là tôi ước ao
Tình tôi vô lượng sẽ dâng cao
Như bông trăng nở, bông trăng nở
Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào

Vầng trăng khuyết ấy, trái tim đau ấy đang phiêu du ở một chốn nào, đang "chơi giữa mùa trăng" liệu có kịp về với bến sông Trăng?
2.12.2011
TRẦN HÀ NAM

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

Rèn luyện cảm xúc...

Giữ được cảm xúc cho những tác phẩm đã đọc đi đọc lại thật là một vấn đề nan giải. Nhưng nếu chịu khó rèn luyện có lẽ cũng không khó để nuôi dưỡng cảm xúc! Điều duy nhất có thể làm chính là luyện viết, tập diễn đạt! Đọc đi đọc lại một tác phẩm nào đó, sẽ có cảm hứng viết cho những suy nghĩ mới mẻ của mình! Chỉ cần dành chút thời gian cho văn chương thì văn chương không phụ. Và một điều nữa, tác phẩm văn chương sẽ có thêm nhiều ý nghĩa nếu như ta biết liên hệ với thực tế, viết qua trải nghiệm của bản thân. Mà trải nghiệm của con người thì không ngừng đầy đặn thêm cùng thời gian. Bởi thế mà mới có câu "thầy già, con hát trẻ"! Rồi sẽ đến lúc những nhu cầu diễn đạt hình thức tân kì qua đi, cái còn lại chính là độ sâu của lời văn, độ chín của tư duy.
Có lẽ đây cũng chỉ mới là những phác thảo cho một cách học văn hiệu quả, và tự bóc tách chính mình, để ra đề cho mình viết, cho siêng năng hơn, và bớt chai lì!
***
Tiếp tục tản mạn văn chương, xung quanh Đời Thừa của Nam Cao - một tác phẩm từng là nỗi ám ảnh những ngày đầu đi dạy. Trải nghiệm bằng tâm thế hiện giờ, xem thử lòng mình có khác!
Hộ là một nhà văn - một nhân vật mà Nam Cao gửi gắm chính mình trong đó rất nhiều. Những trăn trở về nghề nghiệp cũng là nỗi niềm đắng chát trước hiện thực và sự trăn trở của chính Nam Cao trên hành trình khát vọng của mình. Thời Nam Cao, danh xưng nhà văn thật cao quý, và ông đã thổi vào trong nhân vật của mình khát vọng sống nhân đạo và viết nhân đạo. nhân vật bị đặt giữa những xung đột nghệ thuật và cuộc sống, những suy tư giằng xé làm thế nào để được sống đúng là mình, không mang mặc cảm sống thừa. Bi kịch ấy chỉ có được ở những cây bút có lương tri, lương năng. Thời nay, khi các giá trị thực dụng lên ngôi, không biết cuộc sống có bao người như Hộ? Và giả sử Nam Cao tiếp tục phát triển những suy tư của mình về Hộ, thì liệu một khi nhà văn trải qua quá nhiều thực tế đắng chát, anh ta có còn ắp đầy giọt nước mắt ân hận, có còn nghiến răng tự rủa xả mình? Câu chuyện về Hộ, chuyện đời của Hộ dành cho những ai ôm hoài bão cháy bỏng về văn chương, không quá đề cao nghệ thuật tối thượng để tách rời khỏi những nhu cầu cơ bản nhất của đời sống cơm áo gạo tiền. Những mong làm một cái gì thật lớn lao, nhưng chỉ lo cơm áo gạo tiền đủ mệt óc - điều Nam Cao trăn trở ấy có lẽ không giới hạn trong thời ông sống mà là chuyện của muôn đời. Có thể ứa nước mắt vì thấy rằng giấc mộng viết tác phẩm "vượt lên trên mọi bờ cõi và giới hạn, là tác phẩm chung cho cả loài người" ở một xã hội rẻ rúng văn chương thì chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành hiện thực. Và như vậy, nhà văn Việt Nam chân chính mãi mãi lâm vào bi kịch. Truyện Nam Cao lớn vì mổ xẻ những điều vặt vãnh của cuộc sống một cách thấu đáo, không đại ngôn bốc đồng như những cây bút thích nói những điều to tát nhưng chuyển tải thông điệp cuộc sống bé con con. Có bao người khi ngồi trước trang giấy, cảm thấy mệt mỏi vì những áp lực cuộc sống biến mình thành kẻ vô tích sự, một người thừa như Hộ? Có lẽ trong các truyện của Nam Cao về đề tài trí thức, đây là một trong những tác phẩm nói về giá trị của tiền một cách có lý. Tiền bạc và Hạnh phúc với một nhà văn nghèo "có cả một gia đình phải chăm lo" dường như vận hành theo một chu trình trái ngược nhau. Nam Cao còn chỉ ra cả những nguyên nhân chủ quan làm nên bi kịch của Hộ là thói bốc đồng nghệ sĩ, căn bệnh sĩ khiến cho trong phút chốc tiền bạc không cánh mà bay theo những mơ ước viển vông xa vời và những lời đao to búa lớn. Những "văn sĩ" thời nay khi coi văn chương là một trò chơi, một cuộc chơi có thể kiếm cho họ rất nhiều tiền liệu có bĩu môi trước một anh Hộ của một thời không xa lắm? Sự nhạy cảm của một nhà văn đã khiến cho Nam Cao sau này đã viết truyện Đôi Mắt để nói về dạng "văn sĩ kiêm tay chợ đen" qua nhân vật Hoàng - một đối cực với Hộ của Đời Thừa. Nghĩa là Nam Cao trung thành với tín điều đã xác định "có ai giàu có bạc vạn đem đổi lấy cái khổ thì vị tất đã đổi của mình". Cái khổ của sự sáng tạo với Nam Cao dường như không song hành với tiền bạc như nước. Và nhà văn khi để đồng tiền chi phối thì văn chương dường như cũng nhạt đi. Hộ là một mẫu hình trí thức theo quan niệm Nam Cao - thuần túy không pha tạp chất con buôn của những tay đầu cơ chữ nghĩa và đánh đĩ văn chương. Bởi thế nhân vật cũng là một cảnh tỉnh với những người cầm bút.
11.2011
T.H.N